TRONG
CUNG VUI VÀ NHỮNG DỰ THẢO PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
Tìm
được ngày lành tháng tốt, hai vị quốc vương cử hành hôn lễ cho con trai và con
gái yêu quý của mình. Và đây cũng là dịp để đức vua Suddhodāna bố cáo với muôn
dân, trao quyền phụ tá vương quốc cho thái tử Siddhattha để chàng có trách
nhiệm với sơn hà xã tắc.
Thật
là những ngày tháng đáng ghi nhớ của muôn dân dòng tộc Sākya và Koliya. Cả hai
vị vua đều ra lệnh ân xá tội tù và giảm thuế má cho dân. Các cuộc lễ hội, giải
trí được mở ra khắp nơi. Dân chúng quanh năm lam lũ vì cái ăn, cái mặc, bây giờ
được vui chơi, ăn uống, tiệc tùng, đàn ca, xướng hát để cùng chung vui với thái
tử và công chúa yêu quý của mình.
Kinh
đô Kapilavatthu được trần thiết huy hoàng, tráng lệ, xa hoa hết mực. Đèn kết,
phướng bay, cờ treo như sao sa. Dân chúng lũ lượt chảy thành dòng trên các
đường lớn. Màu sắc áo quần rực rỡ như dạ hội bướm trăm màu. Hoa và hương phô
thắm và thơm ngào ngạt trên những tràng hoa trên cổ, kết trên mũ, đính trên áo
của các vương tôn, công tử, mỹ nữ, giai nhân... Tại cung điện thì được trang
hoàng mỹ lệ, cao sang như thiên đường hạ giới. Vua Suddhodāna rộng tay mở kho
tàng chi phí cho cuộc lễ không tiếc tiền, vì ngài nghĩ rằng phải mang đến một
niềm vui lớn để xóa tan những nếp gợn ưu tư trên vầng trán của người con trai.
Ngày
đón dâu đã đến. Từ cổng thành, đèn cờ và hoa vui mắt, hai hàng quân cấm vệ ngồi
trên những chú ngựa sắc hung đỏ chuẩn bị xuất phát. Họ đội mũ sắt, áo giáp sắt,
yên nhung đỏ lộng lẫy, cương mạ bạc lóng lánh... chậm rãi ra khỏi hoàng thành
nhắm hướng Đông nam thẳng tiến. Theo sau họ là những cỗ xe hai ngựa, bốn ngựa
kéo theo những kiệu hoa vương giả. Đức vua Suddhodāna, hoàng hậu Gotamī, các
đức thân vương, các trưởng lão dòng tộc Sākya, các vị lão thần, đại thần cùng
cung nga thể nữ... đại diện cho nhà trai đi sang nước Koliya. Thái tử được ngồi
riêng nơi cỗ xe hai ngựa màu trắng sang trọng và thanh lịch, khẽ vén rèm nhung
nhìn sang vệ đường. Thấy dân chúng hớn hở mừng vui chào đón, chàng mỉm cười,
nghe tâm hồn nhẹ lâng lâng... Từ khi gặp được công nương Yasodharā, thái tử
thấy rõ rằng đây là mối duyên tiền kiếp, một tâm hồn đồng điệu, có thể trao gởi
tâm sự cùng chia sẻ những niềm vui nỗi buồn trên cuộc đời này... Chàng chưa
biết gì nhiều về bên ngoài cung điện, nên nhân dịp này đã cố ý quan sát tất cả,
ghi nhận tất cả cái gì lọt vào tầm mắt... Càng ra xa thành phố, xóm làng càng
thưa thớt, những đám đất xanh và vàng, những bóng người lom khom trên rẫy, dưới
đồng. Đâu đâu cũng núi rừng xanh hút mắt... Sông và suối, những trâu và bò gặm
cỏ, những đàn cò bay lượn nhởn nhơ...
Đến
Devadaha, các trưởng lão hoàng gia, trọng thần, lão thần, binh lính... nghinh
đón ở cổng thành. Họ đi giữa tiếng trống, tiếng kèn, cờ xí rợp trời... Đức vua
Suppabuddha tiếp đón nhà trai rất mực trân trọng... Rồi những cuộc lễ, những
cuộc lễ... theo phong tục tập quán... cứ trôi đi, cứ chảy đi... Cô dâu, chú rể
mệt lả người. Những lời chúc tụng, mừng vui... luôn luôn đãi bôi, khách sáo...
cũng phải nghe, phải cười, phải vâng, phải dạ, phải đứng lên, quỳ xuống...
Trở
về nhà trai, lễ lượt lại tái diễn... Cuối buổi lễ, đức vua Suddhodāna nắm tay
thái tử đến cạnh ngai vàng, trịnh trọng tuyên bố trước đại diện hai nước cộng
hòa:
-
Siddhattha tuổi tuy còn trẻ nhưng có trí, có đức, có tài; từ nay, sẽ phụ tá
vương vị, chính thức được nghị bàn quốc sự, thay mặt ta trách nhiệm trước hội
đồng trưởng lão về mọi chính sách của nước cộng hòa dòng tộc Sākya...
Mọi cuộc lễ rồi cũng qua đi...
Bây giờ, họ đang sống trong cung điện mùa hè, được quyền vui chơi trong tổ ấm
của mình trước khi tập sự việc nước. Thật ra, thái tử không còn cảm thấy thích
thú những buổi yến tiệc linh đình, những cuộc rượu chè thâu đêm suốt sáng của
bạn bè nữa. Có Yasodharā và một số ít ca nhi, vũ nữ, nhạc công là đã đầy đủ cho
tháng ngày hạnh phúc, an lạc. Càng sống với Yasodharā, thái tử càng thấy nàng
hiển lộ nhiều đức tính quý báu khác. Trong các buổi tiệc tùng, ca vũ... chàng
vui vẻ chừng mực thì nàng cũng vậy. Khi thân hữu trong hoàng tộc như Mahānāma,
Bhaddiya, Kāḷudāyi... ép
chàng với những tách rượu say, chàng mỉm cười, cạn vài chung lấy lệ... thì nàng
cũng thế. Ôi! Đóa hoa ấy sao mà e ấp và dịu dàng đến vậy. Thái tử nao nao lòng
khi nàng nhìn chàng với đôi mắt trong xanh vời vợi, biểu hiện cả một trời
thương yêu và tin cậy. Bên những chùm đèn cầy, chùm đèn dầu lạc thắp sáng mơ
màng, huyền ảo; khi đã vắng lặng tiếng đàn hát vui cười, cung vui mùa hè chìm
trong giấc ngủ thanh bình - họ trân trọng nhau, thương yêu nhau và cùng nhau
tâm sự. Hương chiên-đàn, hương trăm hoa, hương xiêm y mỹ nữ như còn đọng giữa
loan phòng... Thái tử thở dài rất nhẹ... đêm sâu cũng dường như xao xuyến theo:
-
Gopā yêu quý! Nàng cảm nhận như thế nào về những cuộc vui này? Nhất là sau
những tiệc vắng, canh tàn?
Yasodharā trầm ngâm giây lát:
-
Có cái gì đó trông như một đóa hoa đã tàn. Có cái gì đó như mùa của lá vàng
rụng rơi lả tả! Có cái gì đó như nhạt nhẽo, trống không, vô vị! Thiếp không
thích lắm! Ở bên chàng, được nói chuyện với chàng, thiếp thấy bình yên và hạnh
phúc hơn!
-
Ta cũng thế đó, này Gopā! Ta chưa biết gì hết ở cuộc đời bên ngoài, nhưng ta
cũng có thể suy luận một vài điều từ kinh điển hoặc từ lời giảng của các thầy
phụ đạo. Rằng là mùa xuân rồi sẽ qua đi, mái tóc xanh của chúng ta sẽ không còn
xanh nữa. Có cái gì đó không trọn vẹn trên thế gian hữu hạn này. Sự bất lực của
số phận con người. Có lẽ nào tất cả đã được định đoạt bởi một đấng vô hình nào
đó? Rồi còn những giới hạn của khoái lạc, của niềm vui? Và đâu là sự an bình
thật sự của con người? Ôi! Ta có quá nhiều ưu tư và trăn trở. Nàng hãy thông
cảm cho ta về điều đó nhé!
-
Thiếp biết! Yasodharā cất giọng nhu thuận - vả chăng thiếp cũng có một vài ưu
tư và trăn trở - Rồi nàng đưa mắt nhìn ra xa - Bên kia, bên ngoài xa kia, thiếp
đã một vài lần đi theo di mẫu để đến những xóm nhà nghèo khổ. Đám bần dân ở đấy
họ có đời sống gần như súc vật. Họ không có được tấm vải che thân lành lặn, kể
cả những ngày đông giá. Họ bệnh tật, ghẻ lở, hôi hám. Họ sống trong những ổ
chuột với gián, với muỗi mòng, nơi những ao, những vũng bùn tù đọng. Trẻ con
thì trần truồng, đen điu như củ súng. Những người già là những bộ xương khô
nhích tới, bước lui... Siddhattha ạ! Thiếp đã chảy nước mắt. Di mẫu cũng chảy
nước mắt. Chúng ta không làm được gì cho họ cả!
Yasodharā gục khóc. Thái tử khẽ
ôm bờ vai của nàng, chia sẻ với trái tim quá mẫn cảm của nàng:
-
Ta hiểu. Ta biết.
-
Những cỗ xe chở đầy thực phẩm, áo quần, thuốc men... của di mẫu chỉ như xoa dịu
những vết thương đã quá trầm trọng. Không ý nghĩa gì cả, không đủ thiếu vào đâu
cả...
-
Ta hiểu. Ta biết.
-
Chỉ như muối bỏ biển mà thôi, Siddhattha!
-
Ta hiểu. Ta biết.
Yasodharā ngạc nhiên:
-
Thái tử làm sao hiểu được khi chàng ở trong ba tòa cung điện nguy nga, tráng lệ
nầy?
Thái
tử mỉm cười:
-
Mặc dầu phụ hoàng muốn che giấu ta về mọi thứ, nhưng ta cũng biết được do đời
sống của hoàng gia, của giới quý tộc quá xa xỉ. Lại nữa, kinh thành
Kapilavatthu được trang hoàng, trần thiết có cái gì đó như kiểu cách và phô
trương quá... Càng đi xa các thành phố, thị trấn thì thôn làng càng tiêu điều,
xác xơ; nhà cửa với mái lá, vách đất nghiêng lệch, chỏng chơ... Rất ít ruộng
xanh mà chỉ thấy những đám đất vàng với trâu bò lang thang giữa đồng cỏ hoang
vu... Dường như dân chúng đói rách, nghèo khổ ở hai bên vệ đường, phụ hoàng
cũng “an trí” họ ở một nơi nào đó! Do suy luận từ những điều ấy mà ta hiểu, mà
ta biết, này Gopā!
Họ
không nói gì với nhau nữa. Yasodharā nằm xuống, khẽ kéo tấm chăn lụa mỏng đắp
cho thái tử, đưa cánh tay phải cho chàng gối đầu, còn tay trái của nàng thì đặt
nhẹ vào trái tim chàng! Ôi! Cái đầu ấy sao mà sắc bén, tinh minh đến thể; còn
trái tim này, dường như bao giờ cũng cùng một nhịp đập với nàng!
Đêm
kinh thành Kapilavatthu và không gian bên ngoài cung vui trăng trong như dát
bạc, vài cánh hoa rơi khẽ, vài ngọn gió xao xuyến rung nhẹ... rồi thì thào ở
rất xa...
Thời
gian trăng mật rồi cũng qua đi. Câu chuyện đêm khuya giữa chàng và Yasodharā về
sự đói khổ của dân chúng cứ canh cánh mãi bên lòng. Hết dự hội nghị ở triều
đình, thái tử lại đi thăm viếng các đức thân vương, các vị trọng thần. Cỗ xe
hai ngựa màu trắng sang trọng với Channa cứ đi đi, về về, phía này, phía kia
trong thành - chưa được phép ra khỏi thành - luôn luôn phủ đầy bụi...
Trời
đã trưa, thái tử cũng chưa về. Cây kadamba với những chùm hoa màu vàng nghệ rực
rỡ kia không biết khoe sắc với ai? Mùi hương nồng nàn dịu ngọt tỏa ra từ cây
hoa campaka, cũng thế! Bên kia hồ, cây hoa hình lồng đèn màu xanh nhạt nằm chen
giữa cây hoa san hô đỏ thắm, lấp lánh dưới hồ nước trong vắt... trông cũng vô
duyên làm sao! Yasodharā chợt mỉm cười, nhủ thầm: Thái tử ở đâu là dường như có
linh hồn và sự sống ở đấy!
Bóng
hai chú ngựa trắng xuất hiện ở cổng xanh. Hai thị nữ cầm ô chạy ra. Thái tử
khoác tay, chàng muốn đi một mình. Yasodharā đợi chàng ở bên hiên.
-
Cây hoa saraca hình cầu đổi màu đã nở hoa chưa, Gopā! Chàng nói rồi ôm nhẹ bờ
vai Yasodharā - Thôi vào đi, trời bắt đầu có nắng hanh...
Tiếng
nhạc nhẹ trỗi lên theo bước chân của hai người. Mấy con chim trên lan can cất
tiếng hót vang rân. Thái tử nói với Yasodharā:
-
Trưa nay ta có khách đấy, Gopā! Buổi chiều và đêm nay, chúng ta sẽ vui chơi với
mấy ông hoàng. Bhaddiya có mời được đám nhạc công và vũ nữ chuyên nghiệp từ
Kosala sang giúp vui!
Yasodharā chợt nhíu cặp mày
xinh xinh, quay lại nhìn Thái tử:
-
Chàng có chuyện gì trọng đại phải không? Tiệc rượu và cuộc vui, chỉ là cái cớ,
có phải thế không, Siddhattha?
Biết
là không thể dấu được sự cảm nhận tinh tế của Yasodharā, đến bên cửa sổ, nhìn
ngắm hoa cảnh một lát, chàng tâm sự:
-
Ta đã nắm rõ và nắm vững toàn bộ tình hình đất nước về ngoại giao, chính trị,
quân sự, kinh tế... Ta cũng đã phác thảo một chương trình cải cách khá quy mô,
và theo đó, dường như mọi chính sách từ trước đến nay của triều đình, đều phải
thay đổi hết... Nhưng qua nhiều lần đàm đạo, có tính thăm dò với các đức thân
vương, các trọng thần, các quan tổng trấn... ta thấy họ trịch thượng, bảo
thủ... và kiêu căng quá! Nhiệt huyết của ta chợt như giọt nước trượt trên lá
sen! Khó quá, Gopā! Sẽ không thay đổi được gì hết!...
-
Thiếp hiểu - Yasodharā gật đầu - Và bây giờ chàng muốn liên minh với các ông
hoàng trẻ tuổi, trí tài; họ sẽ nắm vận mệnh Sākya và Koliya trong mai hậu?
-
Phải! Sau này họ đều là các trọng thần, các quan tổng trấn. Họ trẻ tuổi, thông
thoáng, có đầu óc và có nhiệt huyết... Cũng như ta, đa phần, các ông hoàng đều
không được phép đi ra khỏi thành, không được phép tiếp xúc với dân chúng; do
vậy, cái biết của họ rất giới hạn. Tuy nhiên, ta sẽ thảo luận với họ từng điểm
một, tìm cách bổ sung kiến thức cho họ từng điểm một...
Niềm
vui của thái tử cũng chính là niềm vui của nàng, Yasodharā đứng dậy, sai bảo
những chuyên gia bếp núc, thị nữ... chuẩn bị mấy bàn tiệc lớn. Nơi cung vui mùa
hè có hầm lạnh dự trữ đủ loại thức ăn, đủ loại thực phẩm rau trái hạt củ tươi
xanh, đủ loại rượu hảo hạng của những thương gia biếu tặng... Chén bát, ly tách
được mang về từ Trung Hoa, Ba Tư, Ả Rập...
Lát
sau, các rèm cửa sổ được kéo xuống, những chùm đèn cầy, dầu lạc tỏa ánh sáng mơ
màng... Yasodharā không quên cho vận hành cỗ máy bơm nước - bánh xe gỗ - phun
sương ở bên ngoài cho không gian được mát mẻ... Dẫu là mùa hè, nhưng ở đây lại
như mùa xuân của thiên đường...
Xe
ngựa xôn xao ở bên ngoài. Lần lượt trước sau các ông hoàng, các công tử hào hoa
của Sākya và Koliya xuất hiện, theo sau họ là gánh hát chuyên nghiệp với các cô
nàng lộng lẫy, cao sang hết mực. Bhaddiya cất giọng oang oang:
-
Hôm nay chúng tôi đến quậy phá một trận cái tổ uyên ương của quý vị đây!
Thái tử mỉm cười vui vẻ. Họ đã
đến đủ cả: Bhaddiya, Mahānāma, Kāḷudāyi, Anuruddha, Kimbila, Ānanda, Bhagga,
Devadatta, Anudāma, Virulhāka...
Và ngạc nhiên làm sao có cả lệnh bà Gotamī, cậu bé Nandā và cô bé Sundarī Nandā
nữa!...
Buổi
tiệc và các mục biểu diễn của nghệ nhân kéo dài cho đến chiều tối. Đêm, các ông
hoàng bên cỗ tiệc nhẹ, họ sôi nổi thảo luận cho đến khuya... Yasodharā như
chiếc bóng diễm kiều nhẹ nhàng lui tới, sai bảo chăm sóc trà bánh, khơi thêm lò
trầm rồi sau đó đến vui chuyện, tâm sự với lệnh bà Gotamī và cô bé Sundarī
Nandā...
Devadatta đã tâm phục khẩu phục
thái tử sau lần thi tài võ nghệ nên đồng thuận liên minh với Sākya. Virulhāka
và Anudāma cũng kính trọng và mến yêu thái tử không khác gì, góp ý là nên cải
cách cả hai nước, làm thế nào cho hùng cường và giàu mạnh, thoát khỏi cái ách
lệ thuộc Kosala. Đại hội kín này, trên nguyên tắc, họ đã nhất trí với nhau,
nhưng các chi tiết đề cương còn cần nghiên cứu sâu rộng mới có biện pháp thích
hợp. Cuối buổi họp, thái tử đề nghị Devadatta về Koliya tập hợp lực lượng trẻ
tuổi, lấy nội dung cuộc họp hôm nay để thảo luận. Riêng tại Sākya, thái tử phân
công từng người với những trách nhiệm cụ thể như sau:
- Về ngoại giao: Mahānāma
nghiên cứu một chính sách đối ngoại ưu thắng đối với Kosala, tránh bớt sự lệ
thuộc chính trị và giảm bớt số tiền thuế triều cống hằng năm. Giao hảo thân
thiện với các nước cộng hòa Malla và Vajjī, lôi kéo họ về với mình, tạo thế
mạnh liên minh mai hậu...
- Về đất đai, lãnh thổ: Ānanda
điều tra, nghiên cứu trong diện tích một ngàn rưỡi dặm vuông của lãnh địa
Sākya, có bao nhiêu đất đai đã được canh tác, bao nhiêu đất đai bị bỏ hoang,
bao nhiêu rừng, bình nguyên, sông ngòi... bao nhiêu diện tích các cổ thành, thị
trấn và các làng mạc...
- Về tài nguyên, môi trường:
Kāḷudāyi nghiên cứu
các sản vật rừng như các loại gỗ quý, trầm... có thể khai thác được. Các loại
thảo dược có thể chế biến để phục vụ y dược. Trong lòng đất, ở đâu có thể khai
thác các quặng mỏ để lấy vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, sắt... Tình trạng rừng nào
cần bảo vệ, chăm sóc; rừng nào đã quá hoang hóa, cần trồng lại. Cũng nên nghiên
cứu loại cây nông nghiệp nào hợp thổ nhưỡng, có năng suất cao để chống đói
nghèo...
- Về quân sự, võ bị: Bhaddiya
nghiên cứu xem trong mười ngàn chiến sĩ tại Kapilavatthu cùng chín cổ thành,
thị trấn... có thể chia hai, thay phiên nhau, một nửa ở quân ngũ, một nửa về
làm ruộng được chăng? Tình trạng khí giới, quân nhu, lương thực... mỗi năm tiêu
tốn hết bao nhiêu? Quân, cốt yếu là phải tinh nhuệ, khổ luyện chứ không phải là
số lượng. Cũng nên xem lại tình trạng các trại nuôi voi, ngựa...; mã xa, mũ
sắt, giáp sắt, đao kiếm, cung tên... đã hoàn bị chưa hay cần nên trang bị thêm
cho được hùng mạnh và hiện đại...
- Về dân số và thành phần các
giai cấp: Kimbila điều nghiên số dân hai trăm ngàn của chúng ta có chính xác
không? Trong đó, bao nhiêu là hoàng gia, quý tộc? Bao nhiêu dân ở trong các
thành phố, thị trấn, bao nhiêu dân ở các thôn làng? Còn nữa, có bao nhiêu
nghiệp đoàn thương mãi, kinh tế; theo đó, giới thợ thuyền phụ trách các ngành
nghề là bao nhiêu? Ngoại trừ người già lão, ốm đau, tật nguyền, trẻ em... thì
cả nước có chừng bao nhiêu nông dân lao động chính, tạo ra của cải?
- Về tín ngưỡng, tôn giáo:
Anuruddha nghiên cứu xem trong giới bà-la-môn, tu sĩ, đạo sĩ các giáo phái...
chừng bao nhiêu người thật sự sống đời sa-môn, y bát khổ hạnh lang thang tầm
cầu Phạm thể? Bao nhiêu người trong họ, có gia đình, sống đời thế tục, tài
giỏi, đang làm thầy giáo, y sĩ, thiên văn, toán học... Cũng phải tìm hiểu cho
rõ, giới bà-la-môn phụ trách tư tế ở các đền miếu, các người phúng tụng, bùa
chú... giữ độc quyền liên hệ với thần linh; họ đã bóc lột dân đen trong các
buổi tế đàn, quan hôn tang tế, cầu phúc, cầu thọ... cụ thể là hiện vật hay tiền
bạc như thế nào?
-
Về y tế, từ thiện xã hội: Bhagga phụ trách, xem thử...
Thái
tử nói ngang đây, lệnh bà Gotamī xen lời:
-
Cái đó để phần ta, ta biết rất rõ con à!
Thái
tử ngạc nhiên quay lại, hóa ra không những lệnh bà Gotamī, Yasodharā, Sundarī
Nandā... mà còn rất nhiều người khác nữa cũng đang lặng lẽ ngồi đầy đặc ở xung
quanh... Thái tử đâu có biết rằng, chương trình phác thảo, phân công công tác
của thái tử không những làm cho các ông hoàng kinh sợ, thán phục cái tầm vĩ mô,
toàn diện vấn đề của đại sự quốc gia - mà còn làm cho các nhạc công, thị nữ
kính trọng, ngạc nhiên vô cùng. Từ lâu, họ cứ tưởng rằng, thái tử và các ông
hoàng chỉ biết ăn chơi, tiệc tùng xa xỉ... làm gì biết đến đời sống của muôn
dân, trong đó có thân phận của họ! Lệnh bà Gotamī và Yasodharā cũng thế, kế
hoạch của thái tử đưa ra quả là cao xa và sâu rộng - tuy mới chỉ là điều tra và
nghiên cứu - nhưng đã vượt tầm hiểu biết của họ; chỉ riêng vấn đề y tế và từ
thiện xã hội là họ hiểu và rất phù hợp với ước muốn của hai người mà thôi. Hóa
ra ai cũng có tấm lòng, ai cũng dễ dàng đồng cảm nếu có người biết khơi gợi,
biết quy tụ sức mạnh, “chung lưng đâu cật” với nhau...
Thái tử đưa ánh mắt trìu mến nhìn các ông hoàng huynh đệ, cất giọng dè
dặt:
-
Các bạn phải thật khôn khéo khi tìm hiểu các số liệu nơi các trọng thần, nơi
các hàng trưởng lão. Đừng để cho họ nghi ngờ chúng ta xen sâu vào công việc của
triều đình... Ta tin là các bạn đủ thận trọng và đủ tế nhị khi làm công việc
khó khăn này... Tương lai cả hai quốc độ, sau này ở trong tay chúng ta!
Đêm
đã khuya mọi người mới từ giã ra về, họ ôm chặt vai nhau và hứa hẹn bắt tay
hành động, từng bước một, sau khi đã nắm vững những con số cần thiết. Các ông
hoàng, từ đây, đã bắt đầu từ bỏ đời sống hưởng thụ vị kỷ, hướng tâm và trí đến
những công việc có ý nghĩa hơn.
Thái
tử rất vui sướng, người nhẹ lâng lâng, nói với Yasodharā:
-
Cái điều canh cánh bên lòng của chúng ta đã được các ông hoàng chia nhau gánh
vác. Ôi, họ dễ thương làm sao!
-
Cái chuyện đói khổ ấy à?
-
Phải! Cái việc làm cao đẹp của nàng và mẫu hậu như kéo một tấm chăn mà đi đắp
chỗ này và chỗ kia. Vấn đề là ai cũng phải có tấm chăn ấy, Yasodharā!
-
Thiếp chưa hiểu rõ lắm!
-
Tài sản, của cải xã hội có được rất hữu hạn, và là do các giới lao động nông
dân, thợ thuyền làm ra... mà phi lý thay, họ lại nghèo đói! Còn chúng ta, giới
hoàng gia, quý tộc không làm gì, thì lại giàu sang, sống đời hưởng thụ. Cũng ví
như cái chăn này, ta kéo về phần mình nhiều thì bên nàng lại thiếu, có phải thế
không? Xã hội phải được phân công trách nhiệm. Phải có một biện pháp toàn diện
- chứ không phải sớt chỗ này chia cho chỗ kia! Chúng ta phải giải quyết nhân
chứ không phải chữa trị quả, Gopā!
Sáng
nào họ cũng ngồi uống trà ở hiên sương. Khi những cây hoa vàng nghệ, đỏ rực đã
tàn thì cây hoa hình cầu đổi màu lại nở. Nó chuyển từ màu cam sang màu đỏ, cho
đến lúc nào hương sắc nhạt phai là báo hiệu sự thay tiết, đổi mùa..
Tiếp
sau cảnh sắc rực rỡ là nắng nóng đến khô người, cây lá sẽ không còn sương đêm,
mặt đất sẽ nứt nẻ, xám ngắt dưới bầu trời chói chang, không một gợn mây. Đôi
nơi, khi khí nóng nở ra, cuộn lên, tạo thành luồng gió xoáy, hình dáng giống
như cái phễu, la đà, quằn quại, nghễu nghện hút tất cả lá rác, bụi bặm tung thả
lên không... Cuối mùa hè, tất cả cỏ hoa đều tàn tạ, những cành cây khẳng khiu
rụng lá, như những bộ xương khô, chơ vơ giữa nền trời xanh ngắt. Khi có những
dấu hiệu như vậy, thái tử lại chuyển qua cung điện mùa mưa; vì ít hôm nữa thôi,
trên bầu trời, những đàn quạ, chim ưng lượn bay táo tác, tìm ẩn trốn nơi nào đó
thích hợp; chúng biết những cơn bão lớn sắp bùng qua nơi đây... Rồi sau những
cơn bão phá hại nhà cửa trốc nóc trốc mái, cây cối gãy đổ ngổn ngang, ruộng
vườn xơ xác... là mùa mưa sẽ bắt đầu...
Mấy
lúc này, thái tử của chúng ta chăm chuyên đọc sách, những quyển cổ thư bụi bặm
trong đền thiêng Simhābanu và trên bàn thờ của hoàng gia - có thể là đã lâu lắm
chưa ai sờ tới. Tất cả đều được khắc chạm trên những thẻ gỗ, thẻ đồng - những
hình tượng, những ký hiệu rất khó hiểu. Chàng triệu thỉnh các thầy phụ đạo cũ
đến nghiên cứu giúp nhưng không ai đọc được. Bà-la-môn Svāmitta suy đoán, có
thể là di huấn của các hoàng triều từ thuở lập quốc đến nay; mà cũng có thể là
những kinh văn ngàn xưa thuộc nền văn minh Mohenjo-Daro cách đây trên dưới vài
ngàn năm đã mất tích hẳn. Thái tử đã hỏi phụ hoàng cùng các trưởng lão trong
dòng tộc, nhưng không ai biết, chỉ xem như vật thờ cúng kế thế các hoàng triều.
Nhờ có kiến thức ngôn ngữ sâu rộng tiếp nối từ tiền kiếp, thái tử đã đọc được,
nội dung ở đây là tập đại thành khôn ngoan nhiều ngàn năm trước của dòng giống
Aryan lúc họ từ miền Tây bắc tràn xuống xâm lăng Ấn độ. Tổ tiên của thái tử,
hóa ra là Aryan? Một dân tộc thông minh thượng đẳng? Tuy nhiên, chẳng ai hiểu
rõ, nguồn gốc họ là nông dân, họ sử dụng vũ lực xâm lăng Ấn Độ vì họ cần ruộng
đất để canh tác, cần bình nguyên để nuôi cho thật nhiều bò! Bồi hồi, vui sướng,
thái tử nghiền ngẫm thấu đáo từng thẻ gỗ, từng thẻ đồng một. Ôi! Lại còn kinh
Vệ-đà khởi từ nguyên thủy của Aryan nữa, nó mới hay, mới đẹp làm sao; bây giờ
nó đã thoái hóa, mất gốc quá nhiều, pha trộn hình thức tế lễ, bùa chú... để ru
ngủ tín đồ cũng quá nhiều! Còn nữa, Áo nghĩa thư với những luận giải bác học là
sự ngụy tạo của các thời đi sau! Và đây nữa là các công nghệ, những môn học
thiết thực, cụ thể để phát triển xã hội... Sau nhiều đêm, nhiều ngày tư duy,
chiêm nghiệm, thái tử thấy rằng, ở trong đống thẻ này, có nhiều kiến thức đã
lỗi thời, chúng chỉ giúp được cho thái tử cái phổ quát, còn để đáp ứng cụ thể
cho nhu cầu xã hội hiện nay... thì cần phải... bổ sung và đổi mới nhiều hơn
nữa!
Hôm kia, đang ở trong cung điện
mùa mưa thì vài ông hoàng tìm đến, đó là Ānanda và Kāḷudāyi.
Trông hình dong, biết họ khá vất vả trong công việc của mình, thái tử ân cần
tiếp đón, sai thị nữ hầu khăn, nước, dọn tiệc rươu nhẹ để tẩy trần... Ānanda
vẫn giữ nụ cười tươi đẹp như hoa, nhưng giọng nói đã nhuốm vẻ ưu tư:
-
Đệ đã khôn khéo xin được đi thăm các quan tổng trấn, thế rồi đệ xuôi ngược đó
đây như đi ngoạn du nên không ai để ý. Và đây là những con số đệ đã nghiên cứu
cặn kẽ - ôi, những con số khá bi quan! Hóa ra, trong một ngàn rưỡi do-tuần
vuông của Sākya: Năm phần mười là rừng, hai phần mười là sông ngòi, bình
nguyên, thị trấn, làng mạc, hai phần mười bị bỏ hoang và chỉ có một phần mười
là canh tác ruộng rẫy cùng các cây ăn trái... Ānanda thở dài - tuy đệ không
hiểu gì nhiều, ruộng lúa và nương rẫy làm ăn ra sao, nhưng dường như chúng ta
còn bỏ hoang phế quá nhiều.
Thái
tử mỉm cười, trấn an:
-
Đệ nhận xét rất đúng. Chúng ta mới chỉ đang nghiên cứu những con số, chừng ấy
thôi đã tốt lắm rồi.
Kāḷudāyi
tiếp lời:
- Ở lãnh vực của đệ không những
bi quan mà còn sinh ra lắm điều rắc rối. Các số liệu về tài nguyên đệ đã có,
nhờ các lão thần và các quan tổng trấn cung cấp. Nhưng ta lại thiếu các người
am tường công việc. Ai là người giỏi về rừng để nghiên cứu thấu đáo về lâm sản?
Ai là người giỏi về y dược để biết các loại cây cỏ có công năng dược liệu? Ai
là người giỏi về đất, nhìn ngắm trong đất để biết nơi nào có vàng, đồng,
sắt...? Còn kiến thức về cây trồng trong nông, lâm... đất đai, thổ nhưỡng, năng
suất, lợi ích... cũng cần có những người rất chuyên môn mới làm được! Nói tóm
lại - Kāḷudāyi thở ra
- Có biết đấy, nhưng biết cũng bằng không, phức tạp và nhiêu khê lắm!
Thái
tử cười nhẹ, nắm chặt tay cả hai bạn, giải thích:
-
Hoàn toàn đúng! Đây là vấn đề mới mẻ đối với tất cả chúng ta. Từ từ chúng ta sẽ
học hỏi. Ví như người am tường công việc của mình thì gọi là người chuyên môn.
Người chuyên môn ấy nghiên cứu về lãnh vực chuyên biệt ấy một cách cặn kẽ, thấu
đáo, có số liệu cụ thể chứng minh - thì họ được gọi là chuyên gia. Về rừng, về
y dược, về đất đai, về nông nghiệp... tất thảy đều phải cần có chuyên gia cả.
Các nền văn minh xưa và các đế quốc giàu mạnh họ đều có kế hoạch để đào tạo
chuyên gia. Xa về phía Tây bắc, cách nước ta chừng hơn trăm do-tuần, có nước
Gandhāra có trường đại học bách khoa Takkasilā là đào tạo chuyên gia, nhân tài
cho cả châu Diêm-phù-đề.
Thấy
Ānanda và Kāḷudāyi chưa
hiểu lắm, thái tử tiếp lời:
-
Chúng ta nắm số liệu chắc chắn mới có thể phác thảo đề cương về một chính sách
toàn diện... Sau công trình của các bạn, chúng ta mới biết cụ thể rằng, chúng
ta cần đào tạo chuyên gia về mọi lãnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, y học, dược
thảo, khoáng sản, địa chất... cùng đầu tư về phương tiện, công cụ sản xuất...
Nói ngắn gọn, chúng ta phải có một trường đại học bách khoa... tương tợ như
trường đại học nổi tiếng ở Takkasilā - may ra mới nói đến sự phát triển đất
nước, may ra mới nói đến manh áo chén cơm cho lê dân đói khổ...
Một
tháng, hai tháng sau, lần lượt các ông hoàng khác mang đến cho thái tử những
kết quả của họ. Thái tử mừng vui, khuyến khích, sau đó, góp ý với từng trường
hợp một.
-
Này bạn Bhaddiya! Bạn hãy nói đi! Trường hợp bạn là một viên đại tướng, thống
lãnh quân đội, bạn có kế hoạch nào để tự trang bị khí giới, quân nhu, lương
hướng... mà không cần sự tài trợ của hoàng gia, tức là thuế má của quốc dân?
-
Được chứ! Bhaddiya tự tin nói - Như thái tử đã gợi ý, ta sẽ cho năm ngàn lính
thay nhau lao động sản xuất. Họ không những làm ruộng, mà còn khai thác gỗ, làm
thợ cưa xẻ, thợ mộc cùng các nghề khác thích hợp. Nếu quân đội chưa tự nuôi
sống được mình thì cũng đỡ được một kinh phí khổng lồ. Từ lâu, họ là tập cấp
chiến sĩ nên đã hưởng thụ quá nhiều ưu đãi...
-
Cụ thể là thế nào hở Bhaddiya?
-
Một người lính tiêu tốn bằng mười người nông dân, bằng ba thị dân trung lưu,
bằng một người khá giả...
Kimbila tiếp lời:
-
Thưa thái tử! Nhưng giới hoàng gia và quý tộc có ba ngàn người nhưng họ tiêu
tốn sản phẩm còn gấp mấy lần quân đội. Nói là dân số cả nước có hai trăm ngàn,
nhưng chúng ta chỉ thật sự có bốn mươi mốt ngàn nông dân và mười bảy ngàn thợ
thuyền trực tiếp lao động, tạo ra của cải xã hội mà thôi!
Thái
tử nhíu mày:
-
Thế số còn lại?
-
Bi quan lắm, thái tử! Chừng năm sáu mươi ngàn lao động gián tiếp ở các thị
trấn, thành phố gồm các nghề nghiệp và những dịch vụ khác nhau trong các nghiệp
đoàn kinh tế và thương mại. Chừng hai ba ngàn người là các ông chủ lớn, ông chủ
nhỏ các tiệm vàng, bạc, bánh kẹo, vải vóc, lúa gạo, nhuộm, dao kéo, mỹ phẩm, ăn
uống... Giới bà-la-môn tu sĩ và tại gia các loại cũng trên mười ngàn. Chừng ba
bốn mươi ngàn không lao động được, gồm những người già lão, ốm đau, tật nguyền,
trẻ em...
Anuruddha tiếp lời sau cái thở
dài thườn thượt:
-
Hiện có ba bốn giáo phái trong và ngoài truyền thống Vệ-đà đang sinh hoạt. Số
bà-la-môn thật sự sống đời sa-môn, đạo sĩ xuất gia chưa tới một ngàn. Trong số
chừng chín ngàn còn lại, có khoảng năm ngàn người làm ruộng cùng với gia đình
của họ trong những điền trang lớn và nhỏ, giàu có, nghèo có. Khoảng một trăm
bà-la-môn học thức, họ mở lớp dạy riêng, làm gia sư hoặc cố vấn cho các quan
tổng trấn. Chừng hơn hai trăm bà-la-môn tư tế tại các đền miếu và lác đác trong
các thôn làng. Dân chúng cần lễ lượt gì phải nhờ vả đến họ, phí tổn rất lớn...
Sau
khi tiếp thu các công trình nghiên cứu tỉ mỉ của các ông hoàng, thái tử kết
luận:
-
Nước ta nghèo đói là phải, do người làm ít mà người ăn thì nhiều. Chúng ta sẽ
có biện pháp chấn chỉnh...
-
Còn điều này nữa - Kimbila xen lời - Ở kinh thành và các thị trấn các ông chủ
cho vay quá nặng lãi. Vay bình thường là mười lăm đến mười tám phần trăm, nếu
vay nợ lâu chừng một năm là sáu mươi phần trăm, vay buôn đường dài là một trăm
hai mươi, vay buôn đường biển là hai trăm bốn mươi! Lợi tức của ông chủ nghiệp
đoàn bằng một trăm lần người lao động. Lợi tức của ông thống đốc nghiệp đoàn
còn thêm mấy lần nhiều hơn... Vậy thái tử làm thế nào ngăn bớt sự bóc lột ấy
nữa!
-
Cảm ơn, Kimbila! Ta sẽ cố gắng!
Mahānāma bây giờ mới trình bày
công việc của mình:
-
Đầu tiên nói về Kosala! Đức vua Pāsenadi hiện nay tuổi trẻ, tài cao và rất nhân
hậu, chí ít trong thời gian ngài tại ngôi, chúng ta sẽ rất yên ổn, không ngại
có chuyện hạch sách về vấn đề triều cống đâu. Ngài không cần lắm tiền bạc của
chúng ta, cái ngài cần là sự thuần phục, tuân phục...
-
Đúng! Đúng! Thái tử gật đầu - Bạn tiếp đi!
-
Vậy ta nên giữ lễ, biết kính trọng và biết nghe lời đại vương Pāsenadi là yên.
Hằng năm, chỉ nên dâng biếu những sản vật mà Kosala cần, khan hiếm; đó là sừng
tê giác, trầm chiên đàn, mật ong và xạ chồn hương!
Thái
tử lại gật đầu nữa:
-
Thật là giỏi! Bạn sẽ là một vị vua giỏi, này Mahānāma quý mến! Vậy tình hình
các nước cộng hòa ra sao?
-
Cộng hòa Malla với đệ có chỗ thâm tình, dễ thuyết phục, không lo gì, nhưng các
cộng hòa kia thì đang có sự cố... Nó như thế này - Cộng hòa Licchavī, thủ đô là
Vesāli, cộng hòa Videha, thủ đô là Mithilā cùng một số bộ tộc khác, trước đây
liên minh với nhau, trở thành liên bang Vajjī. Sau khi thống nhất một thời
gian, họ muốn lấy tên một thủ đô chung cho liên bang; nhưng cả hai bên cùng
kiêu ngạo như nhau, ai cũng muốn dành cái tên thủ đô về phần mình... Hiện họ
đang xục xịch, chưa yên... Các nước cộng hòa này có luật pháp nghiêm minh, quân
đội trật tự, kỷ cương... Hội đồng tướng lãnh ở đây, họ rất giỏi nhưng cứng đầu
và kiêu ngạo. Thuyết phục được họ, thật không thể ngày một, ngày hai. Đệ sẽ tìm
hiểu thêm để tìm ra biện pháp ngoại giao khả toàn. Đôi khi Sākya và Koliya của
chúng ta liên minh thành một liên bang, may ra mới giữ được thế quân bình trong
khu vực...
-
Đệ rất có tầm nhìn, thật may mắn cho vương quốc chúng ta. Chuyện liên minh là
một ý tưởng tốt, một thái độ chính trị khôn ngoan. Chúng ta sẽ học hỏi ở họ -
Thái tử nói rồi quay qua nhìn Bhagga - Còn việc y tế và từ thiện xã hội thì thế
nào rồi hở bạn?
-
Cũng đa đoan lắm- Bhagga nói- Nhưng lệnh bà Gotamī bảo là sẽ nghiên cứu kỹ biện
pháp khả thi rồi sẽ trình bày sau...
-
Thế là tốt! Cảm ơn tất cả các bạn. Ai cũng đã vất vả quá nhiều... Chỉ với tâm
huyết này thôi đã rất xứng đáng làm một thanh niên trí thức trên cuộc đời này
rồi...
-
Chúng ta sẽ đệ trình tất cả điều ấy lên đức vua và hội đồng trưởng lão chứ?
Anuruddha nóng lòng hỏi.
-
Khoan đã - Thái tử trả lời - Chỉ khi nào chúng ta tìm ra biện pháp chấn chỉnh
hoặc cải cách từng điểm một, cụ thể, có tính thuyết phục cao... bằng không...
Thái tử chợt im lặng, đăm
chiêu... Thấy mọi người chưa hiểu câu nói bỏ lửng ấy, Mahānāma và Kāḷudāyi
như đồng nói lên một lúc:
-
Đụng chạm quá nhiều đến quyền lợi của hoàng gia đấy, các bạn!
ĐÊM
KHUYA NGHE GIÓ THỞ DÀI
Mưa
cuồng, gió quật, sấm chớp đùng đùng... Từng đám mây qua mùa nắng nóng dường như
được rang cho khô quánh lại, bây giờ thấm ướt, nở phình ra, no ứ nước rồi đổ
tràn trề, đổ xối xả xuống núi rừng, thảo nguyên, đồng ruộng, làng mạc... miền
Trung bắc Ấn. Những cơn mưa này mọi người chờ đợi đã lâu, từ sau tháng Vesākha,
cây cối chỏng chơ, đất đai khô nẻ... đang muốn được hồi sinh! Từ từ, chầm chậm,
không vội vã gì, từng cơn gió mùa xào xạc thổi qua, rồi từng cơn mưa chợt như
nhẹ nhàng hơn, đều đặn hơn rơi xuống liên tục từ ngày này sang ngày khác...
Những
tháng ngày khô nóng như rang người đã qua rồi. Cũng qua rồi thời kỳ mọi người
chỉ muốn ngồi yên một chỗ, không động đậy, không nhích chân, nhích tay hằng giờ
liền: họ muốn tiết kiệm năng lượng! Trước các sân nhà, ngoài đường, mưa đọng
thành vũng, trẻ con trần truồng chạy nhảy, nghịch té nước, cười vang, nô đùa
hồn nhiên. Các cụ già, bà lão, vươn vai, đứng bên ngưỡng cửa hoặc chường ra
hiên chốc lát, nhìn ngắm mưa, hít thở bầu không khí trong lành, mát rượi...
Phong
cảnh, sau đó, không mấy chốc thay đổi mau chóng, lạ thường. Như tay họa sĩ đại
tài hoặc như tên phù thủy nhiều bùa phép - chúng biến những dòng sông lờ đờ, uể
oải, nhác nhớm... thành những dòng chảy màu nâu, đỏ đục, lầu ngầu rác rưởi
thành những chàng thanh niên mạnh khỏe, lao như điên, tràn sông, tràn bờ, tràn
ao hồ... ồ ạt đe dọa làng mạc, cư dân, ruộng vườn... Mưa vùng này thì ít mà
nước thì dâng rất nhanh, do các sườn núi từ Himalaya tràn xuống. Biết
bao nhiêu là nhà cửa và đường sá bị ngập chìm. Ở đâu cũng bùn lầy, rác rến lều
phều, cành củi lềnh phềnh, cây gãy, dậu đổ, nhà xiêu... Mọi người không đi đâu
được. Thế giới loài vật bắt đầu lộng hành vì thiên nhiên tự do đã được trả lại.
Một cảnh tượng hoang dã đổ tràn ra các ngả đường: Tha hồ là rắn, rít, bò cạp...
bò ra khỏi những nơi ngập nước, lổn ngổn trườn trên những đám đất cao ráo;
những chú ếch, nhái, ễnh ương... nhảy lóc chóc, kêu ồm ộp, oàm oạp bát nháo...
bất kỳ chỗ nào, bất kể nơi đâu thuận lợi. Dường như chúng không còn sợ con
người nữa. Ngay trong các tường nhà, thiên hô vạn hát là tắc kè, thạch sùng đua
nhau chắt lưỡi, kêu réo, ngang dọc vô tư, ăn muỗi mòng, sâu kiến đến căng cả da
bụng... Còn chuột đồng, chuột cống, chuột nhà... thản nhiên kiếm ăn bất kỳ đâu
có củ thối, xác sình...
Theo
chu kỳ thời gian, mùa tiết diễn ra đều đặn. Trong cung vui, thái tử chẳng đi
đâu được. Và trong cung vui, chàng có hay biết gì chuyện mưa gió quấy nhiễu đất
trời. Những bức tường dày ngăn cách âm thanh. Một lò sưởi lớn được thiết kế
chỉnh chu, dẫn hơi ấm qua những ống đồng nhỏ len lỏi qua các phòng nên nơi đâu
cũng khô ráo dễ chịu. Những bức tường là các họa phẩm thiên tài, màu sắc mùa
xuân và mùa hạ đan xen hài hòa, cây lá, cỏ hoa... trông thật dịu dàng và mát
mẻ. Âm thanh cuồng nộ của đất trời ở bên ngoài không lấn át được giai điệu nhẹ
nhàng, yên tĩnh của nhạc công, ca nhi ở bên trong...
Thái
tử của chúng ta bước lui, bước tới, bước ngắn, bước dài... Các ông hoàng đang
chăm lo mọi công việc, chắc cũng kẹt ở đâu đó giữa mùa mưa của miền Trung bắc
Ấn quỷ quái này. Thỉnh thoảng, Ānanda, Anuruddha, cậu bé Nandā...
trùm mưa vượt ngựa sang chơi. Họ lại vầy những cuộc vui tao nhã, thanh lịch với
trà bánh dị giản... Nhưng thái tử cũng không được vui, tâm trí của chàng dường
như để ở đâu đâu.
Yasodharā
từ đâu đó bước ra, khẽ khoác tay, đàn sáo ca ngưng bặt; nàng nói nhỏ với ba vị
hoàng đệ:
-
Hôm thái tử vào cung gặp phụ hoàng cùng các đức thân vương, bàn thử hai việc:
Thứ nhất là mở trường đại học bách khoa tương tự như ở Takkasilā để đào
tạo chuyên gia... Thứ hai là giảm một nửa lực lượng chiến sĩ, thay nhau làm
ruộng cùng các ngành nghề khác... thì gặp sự im lặng đáng sợ...
-
Rồi sau đó thì sao? Anuruddha vội hỏi.
-
Đức thân vương Dhotodāna - thân phụ của Bhaddiya - nói là mở
trường đại học, con cháu hoàng gia đâu có mấy người; chẳng lẽ cho cả thứ dân
vào học ư? Lại nữa, nó sẽ rút cạn kiệt ngân khố của vương quốc! Thật là hoang
tưởng!
Thái
tử bước đến bàn sách, lựa lấy mấy tấm thẻ đồng rồi lặng lẽ ngồi xuống một bên,
chàng nói:
-
Kể nữa đi, Gopā! Nàng kể đúng y như nguyên văn vậy!
-
Đức thân vương Sakkodāna - thân phụ của Kimbila - thì nói giọng
hững hờ nhưng khá cay độc: Đây đúng là thời kỳ tiến bộ của dòng Sākya anh
hùng, tập cấp chiến sĩ suy thoái xuống hai bậc, tình nguyện đứng sau cả bọn
thương buôn! Đúng là một trang sử huy hoàng!
-
Thôi, hết! Anuruddha thở hắt ra rồi quay sang thái tử - Còn thân phụ của
đệ có ý kiến gì không?
-
Thúc vương thì dè dặt, thận trọng hơn, ngài lặng lẽ rất lâu rồi mới phát biểu:
Đào tạo chuyên gia là điều kiện tất yếu để phát triển đất nước. Đó là con đường
duy nhất. Chúng ta nên hỏi ý hội đồng trưởng lão trong nay mai, chờ các ngài
biểu quyết. Gia dĩ không mở trường đại học được thì tại sao chúng ta không thể
cho con em hoàng gia đi du học ở Takkasilā?
-
Tuyệt vời- Ānanda vỗ tay tán thưởng rồi hỏi tiếp - Thế còn thân phụ của
đệ, có một câu góp ý nào nghe lọt lỗ tai không?
Thái
tử mỉm cười:
-
Thúc vương cũng tuyệt lắm, ngài nói rằng: Chúng ta đã từng phá lệ, mời ông chủ
ngân hàng và mời thống đốc nghiệp đoàn làm quan đại thần để cố vấn kinh tế cho
triều đình. Vậy tại sao thứ dân không thể trở thành người tài? Tập cấp chiến sĩ
mà biết tiết kiệm ngân sách quốc gia, tự mưu sinh... thì quả là điều đáng mừng
cho triều đại... Ồ! Đúng là tư tưởng của một vị Chuyển luân Thánh vương!
Ānanda
sung sướng quá:
-
Đệ phải chạy về ôm hôn thân phụ mới được...
Nandā
hồi nãy giờ cũng lắng nghe câu chuyện của người lớn, đến đây, cậu nhướng mắt
hỏi thái tử:
-
Thế còn phụ hoàng của chúng ta?
-
Vương phụ không quyết định được...
-
Có phải là do hai thuận, hai chống?
-
Ừ! Hoàng đệ giỏi lắm! Phải đợi hôm nào hội đồng trưởng lão cho ý kiến...
-
Nhưng sao hoàng huynh lại buồn? Phần thắng sẽ về với chúng ta đấy!
-
Không đâu, Nandā tiểu thúc! Yasodharā nói - Thái tử biết rõ chín
phần mười là mình thua... Bảo vệ quyền lợi của tập cấp Sát-đế-lỵ là chiến lược
hàng đầu của đa phần chư vị trong hội đồng trưởng lão!
Mọi
người đều có vẻ đăm chiêu, nghĩ ngợi... Thái tử đưa những thẻ đồng đến cạnh ánh
đèn, đọc cho mọi người nghe vài đoạn rồi nói rằng:
-
Trí khôn của người xưa phối hợp uyển chuyển với những điều nghiên, nghị bàn của
chúng ta bấy lâu nay, ắt sẽ có một chính sách khả toàn; tuy nhiên, có một cái
gì đó ta linh cảm sẽ bị trở ngại...
Đêm.
Không gian chìm vào yên lặng. Có tiếng gió nào đó thở dài từ rất xa... Chỉ có
thái tử là nghe được âm thanh vô hình ấy:
-
Ta đã bay đi từ muôn trùng hư ảo
để
đến với muôn trùng hư ảo
Ta
đã bay đi từ những đổ vỡ bất toàn
Để
đến với những đổ vỡ bất toàn
Hỡi
trăng! Hỡi sao!
Sự
lấp lánh chiếu soi của ngươi
Hư
vô không hề biết
Mà
người mẹ đất cũng không hề biết
Rồi
mây đen lại ùn ùn kéo tới
Rồi
ngã mạn, kiêu căng ùn ùn kéo tới
Rồi
thời gian sẽ nghiền nát ngươi
Rồi
thời gian cũng sẽ chẻ vụn đôi cánh của ta
Có
những cổ thành đã đi vào hoang phế
Có
những lịch sử liệt oanh
được
xây dựng bởi xương trắng và sọ người
Bởi
sự ngu si, bạo tàn và hủy diệt
Ta
không có vinh quang
Mà
ngươi cũng không có vinh quang
Đều
là sự hiện hữu rỗng không
Có
đó và mất đó
Đều
là trò chơi ảo hóa
Của
thần sinh và thần tử
Chúng
hý lộng và cười cợt
Sự
khôn ngoan của đất trời từ sơ thủy
Rồi
hang thẳm Rāgu nuốt chửng
Rồi
nhiệt huyết của nắng ấm và mưa lành
Cũng
bị bất toàn nuốt chửng
Cũng
bị đổ vỡ nuốt chửng
Cũng
bị hư vô nuốt chửng
Còn
lại những ký hiệu vô nghĩa
Còn
lại những ẩn số tối tăm và khó hiểu
Còn
lại hạt bụi, sương hay giọt lệ
Nó
lăn tròn và tan đi
Ta
tan đi và ngươi cũng tan đi
Vô
tăm vô tích...
Đêm
ấy,
-
Hãy ngủ đi, Gopā! Hãy ngủ một giấc cho ngon! Đừng thấy gì cả, đừng nghe
gì cả! Đêm đã sâu lắm rồi!
Thái
tử lẩm nhẩm không rõ mình đang chiêm bao mơ màng hay là đang tỉnh thức!
Hôm
nay là một hội nghị đột xuất, đặc biệt. Mặc dầu mưa gió, sự đi lại khó khăn,
nhưng đức vua Suddhodāna vẫn triệu tập các đức thân vương và hội đồng
trưởng lão để lắng nghe ý kiến của thái tử và các ông hoàng trẻ tuổi về kế
hoạch phát triển đất nước. Chỉ một số ít vắng mặt không đáng kể, những nhân vật
quan trọng đều hiện diện tương đối đầy đủ.
Với
những chứng liệu cụ thể, xác thực - Thái tử trình bày những nguyên nhân làm cho
vương quốc không thể thịnh cường. Khái quát là bởi những lý do chính:
-
Đất đai mười phần mà diện tích canh tác chỉ một phần, đa phần đã bị bỏ hoang.
-
Rừng chiếm một nửa đất nước nhưng khai thác củi gỗ than một cách bừa bãi làm
cho hoang hóa nhiều.
-
Bốn mươi mốt ngàn nông dân và mười bảy ngàn thợ thuyền trực tiếp tạo ra của cải
xã hội với kỹ thuật lạc hậu, dụng cụ thô sơ không đủ sức nuôi hơn một trăm ngàn
dân mà mức sống cao hơn họ một lần, hai lần, mười lần cho chí một trăm lần!
Ngoài ra, người già cả, ốm đau, bệnh hoạn, tật nguyền, trẻ em - là gánh nặng xã
hội - lại chiếm đến hơn ba mươi ngàn!
-
Các buổi lễ tế đàn, súc vật như cừu, dê... bị giết để lấy máu tế thần, mỗi năm
có đến năm bảy trăm ngàn con. Nhân dân tiêu tốn cho các thầy bà-la-môn tư tế ở
các đền miếu, thị trấn, làng xã... về hàng chục loại lễ khác nhau có thể lên
đến cả từng thúng vàng, thúng bạc...
-
Chi phí hằng năm cho mười ngàn chiến sĩ Sát-đế-lỵ về lương hướng, khí giới,
quân nhu... chiếm dụng hết một phần năm tài sản quốc gia.
-
Các ông chủ ngân hàng cho vay quá nặng lãi. Các chủ nghiệp đoàn vắt kiệt sức
lao động của thợ thuyền nhưng cho họ hưởng một đồng lương quá thê thảm để tồn
tại chứ không phải để sống!
-
Không có trường học nào cho con em các giai cấp. Chỉ có hoàng gia, quý tộc, các
gia đình giàu có mới nuôi nổi các thầy bà-la-môn học thức làm gia sư. Tình
trạng này làm cho đất nước ta thiếu nhân tài để phục vụ dân sinh...
Thái
tử trình bày xong, khiêm cung cúi chào các bậc trưởng thượng rồi ngồi xuống.
Các ông hoàng, bạn bè thân hữu của thái tử - những đồng chí, đồng sự cùng một
tâm - cổ vũ, tán thưởng, vỗ tay bôm bốp... Riêng hội đồng trưởng lão thì ngồi
yên, im, lặng ngắt. Họ thấy rõ thái tử đã chẩn đúng căn bệnh. Đã ngạc nhiên đến
lạnh người khi thái tử chỉ ngồi một chỗ mà thấy được toàn cục của quốc gia...
Ồ, nó đúng như vậy thì phải làm sao? Ồ, nguy hiểm đến thế, nhưng từ lâu, tại
sao không ai hay biết? Hằng chục, hằng trăm cuộc họp của hội đồng, bấy lâu chỉ
bàn việc tế trời, tế đất, tế thần; chỉ để phân chia quyền lợi cho dòng trưởng,
dòng thứ...; chuyện quan hôn, tang tế... hoặc chuyện tranh chấp đất đai của
hoàng gia, quý tộc... Cho chí việc nhỏ mọn như con chim hạc thuở xưa hội đồng
trưởng lão cũng phải họp bàn...
Một
vị trưởng lão quắc thước đứng lên:
-
Thái tử đã đưa ngón tay chỉ đúng vào huyệt đạo của sự đói nghèo, hội đồng
nguyên lão rất cảm ơn. Nhưng biện pháp? Tức là đơn thuốc để chữa trị căn bệnh
ấy? Hội đồng rất muốn được nghe qua.
Thái
tử và các ông hoàng đã họp bàn từ trước. Chính thái tử đã đưa ra từng biện
pháp, đã hướng dẫn cách phát biểu và đã phân công trách nhiệm cho từng người.
Nên sau khi được hội đồng trưởng lão chất vấn, các ông hoàng - thay mặt thái tử
- lần lượt đứng lên, trình bày từng điểm một.
Ānanda
phụ trách ruộng đất, đã trình bày rất rõ ràng toàn bộ diện tích đất đai
trong lãnh thổ; về rừng, về sông ngòi, thành phố, thị trấn, làng mạc, ruộng
vườn... chiếm bao nhiêu diện tích; bao nhiêu đất hiện đang canh tác và bao
nhiêu đất hoang phế, cỗi cằn... rồi kết luận:
-
Xin thưa, là phải canh tác cho hết trên dưới chín trăm do-tuần vuông
(mỗi bề ba mươi do-tuần ) ruộng đất bị bỏ hoang. Nhà nước phải cung cấp
dụng cụ sản xuất, phân giống; ngoài ra phải tuyển cán bộ kỹ thuật hướng dẫn cho
nông dân cách ươm trồng, chăm sóc, gieo gặt... bảo đảm năng suất cho được cao
hơn. Phải cần có chuyên gia phụ trách nông nghiệp... Đấy là điều
quan trọng nhất cần đưa lên chính sách ưu tiên một để cải thiện dân
sinh!
Ānanda
có biết gì về lãnh vực ruộng đất? Hội đồng trưởng lão đã đưa mắt nhìn nhau...
ngạc nhiên, sững sờ! Rồi còn kỹ thuật, chuyên gia? Cái gì thế? Họ đâu có biết
rằng, các ông hoàng ham chơi của họ, nhờ sống gần thái tử, họ không còn ngây
thơ nữa, đã có tâm nghĩ đến người khác rồi. Và những hiểu biết về nhiều lãnh
vực, chúng nằm trong những ký tự khó hiểu thuộc truyền thừa của dòng giống Aryan
- Thái tử học được - rồi trao truyền cho huynh đệ kiến thức ấy.
Vì
hội đồng muốn nghe tất cả - nên đến phiên Kāḷudāyi,
phụ trách về tài nguyên, môi trường; chàng nói những điểm chính yếu
nhất.
-
Rừng chúng ta hiện có hơn bảy trăm do-tuần vuông, nhưng đã hơn hai trăm
do-tuần vuông mọi người khai thác củi gỗ và săn bắn bừa bãi. Phải đầu
tư trồng rừng mới, phải nghiên cứu cây trồng thích hợp, lãnh vực này cần có
chuyên gia... Các loại gỗ quý phải biết cách khai thác, sử dụng. Các loại trầm
- chiên-đàn - là tài nguyên phong phú của đất nước, phải cần có một bộ phận
chuyên môn nghiên cứu khai thác và tiêu thụ. Rừng chúng ta cũng hàm tàng những
dược thảo quý hiếm, vừa khai thác, chế biến để chữa bệnh cho hoàng gia, dân
chúng, đồng thời còn có khả năng bán sang các nước lân cận. Việc này cần nhiều
nhà chuyên môn, lương y. Săn bắt động vật rừng cũng phải có kế hoạch, phải có
giấy phép của hoàng gia. Ngoài ra, cần đào tạo chuyên gia nông nghiệp, chuyên
gia khai thác khoáng sản như vàng, bạc, đồng, chì, sắt...; chuyên gia về đất
đai, thổ nhưỡng... tất tần tật. Nói tóm lại là phải cần có trường đại học bách
khoa... mới mong nói đến việc dân giàu, nước mạnh...
Kāḷudāyi
ngưng nói đã lâu
mà hội đồng trưởng lão vẫn im lặng. Họ không biết tại sao bọn trẻ lại biết rõ
ràng nhiều lãnh vực mà từ lâu tuy họ quan tâm nhưng đã không giải quyết được...
Chưa thôi, bây giờ lại đến phiên Bhaddiya, Kimbila, Anuruddha, Bhagga, Mahānāma;
họ lần lượt trình bày về vấn đề giải thể bớt một phần hai quân số chiến sĩ để
giảm bớt gánh nặng ngân sách; quan đại thần phụ trách kinh tế, thương mãi phải
nắm các ngân hàng tư nhân để ấn định, chế tài giá cả cho vay, điều chỉnh lương
hướng thợ thuyền cho hợp lý tại tất cả các nghiệp đoàn; nâng đỡ nông dân bằng
cách giảm thuế má nông nghiệp nhưng lại cung cấp phân, giống, dụng cụ sản
xuất... Muốn có người tài giúp nước phải khuyến khích con em các giới theo học
các trường học của vương quốc - bắt buộc phải mở trong tương lai; con em hoàng
gia, quý tộc phải tự túc để đi học đại học Takkasilā. Hoàng gia, quý tộc
phải tiết kiệm trong ăn tiêu, chi dùng... Phải kiểm soát các cuộc tế đàn, lễ
lạt tốn kém sức người, sức của... Phải ra lệnh cấm giết hại súc vật để tế thần
lửa và các vị thần mơ hồ chẳng ích dụng gì cho cuộc đời... Phải thẳng tay trừng
trị bọn bùa phép ru ngủ ngu dân... Giảm thiểu chi phí ngân sách quân đội mà
tăng cường ngoại giao hòa bình mới là khôn ngoan. Nên có chính sách liên minh
với Koliya tương tợ sự liên minh của liên bang Vajjī để tạo sức
mạnh và ổn định lâu dài... Bỏ bớt các cuộc họp vô ích, phù phiếm giải quyết các
công việc nhỏ nhen hoặc sự tranh tụng, kiện cáo của hoàng gia. Phải giải phóng
nô lệ, cho họ một số quyền lợi để họ tăng gia sản xuất. Khuyến khích tất cả các
giới lao động sản xuất, làm ruộng để tăng thêm của cải cho xã hội. Phải có bệnh
viện miễn phí để chăm sóc sức khỏe cho lê dân. Phải có chính sách hợp lý để săn
sóc người khuyết tật, già cả, trẻ em... Nói tóm lại là tất cả giới lãnh đạo
phải biết hy sinh quyền lợi của mình, đồng cam, cộng khổ để đưa đất nước đi
lên... Phải dũng cảm đứng thẳng dậy, phải thức tỉnh... tất cả chúng ta đã ngủ
gục quá lâu, ngủ gục trên vinh hoa, tự mãn và biếng nhác - thì làm sao thoát
khỏi thân phận đói nghèo, lệ thuộc...!
Các
ông hoàng trẻ say sưa nói, nhiệt huyết bừng bừng mà không hề để ý phản ứng của
hội đồng trưởng lão. Thái tử không ngăn được. Lúc nói xong thì nghị trường đã
trống vắng hơn một nửa... Thái tử biết mình đã thất bại. Đức vua Suddhodāna
trìu mến nhìn các ông hoàng, thở dài, nói:
-
Chính sách hay, rất thuyết phục... nhưng do nóng vội thành ra hỏng cả. Quyền
hạn của ông vua bộ tộc rất nhỏ, các con ạ! Trong lúc này, ta mà theo các con -
thì ít hôm nữa sẽ có người trình tấu lên đại vương Kosala, chưa chừng,
ngay ta cũng bị bãi nhiệm!
Đêm
về, đã khuya, thái tử trằn trọc không ngủ được, lại nghe tiếng gió thì thào ở
bên tai:
Ta
đã đi qua bao cuộc phế hưng
Ta
đã lang thang qua biết bao nhiêu thời đại và lòng người tối tăm và vị kỷ.
Ánh
sáng không thể đến được hang sâu
Chân
lý không giải quyết bằng miếng cơm và manh áo
Thế
gian quay cuồng ngược xuôi, tự mãn bởi kiêu căng và dục vọng.
Ai
cắn xé nhau cứ mặc
Ai
điên cuồng cướp giật lẽ công bằng và sự sống thì kẻ đó là anh hùng.
Có
quỷ ma cài vương miện
Có
ngu si đồng lõa
Và
ngục tù tối đen khóa chặt trái tim người.
Ta
là lang thang gió
Ta
đã đi qua sa mạc, đồng bằng, núi lửa.
Ta
đã cùng với hư vô đào huyệt thế gian này
Khá
thương cho những ai loay hoay với kế hoạch đại toàn.
Thành
công cũng rỗng không
Mà
thất bại cũng rỗng không
Nước
mắt, niềm vui cũng chỉ là cuộc đánh đố của con xúc
xắc.
Rồi
ai cũng cháy túi ra về
Rồi
tử ma đợi chờ bên ngưỡng cửa
Rồi
thống khổ điêu tàn
Rồi
tàn tro đốm lửa
Cháy
bập bùng.
Và
ta quạt gió lên
Đã
muôn triệu kiếp rồi
Ngươi
có nghe chăng?
TẤM
LÒNG VỚI CUỘC ĐỜI
Tuyết
băng và mây mù như trùm lấp những dãy núi phương Bắc, chẳng còn nhìn thấy Himalaya
là đâu. Nơi nào cũng là tuyết, nơi nào cũng từng trận gió rét buốt thổi
tràn qua các vương quốc nhỏ bé nằm nép mình bất an đã mấy ngàn đời dưới cái
khắc nghiệt của thiên nhiên. Ánh nắng mặt trời trốn lạnh trong đám mây đùng đục
màu sữa. Không có một tiếng chim hót. Không có một màu xanh. Không còn nhìn
thấy một con đường. Tuyết, tuyết tràn lấp tất thảy. Sông suối đều bị đóng băng.
Vạn vật như chìm trong cái chết vĩnh cửu. Những bộ xương khô của cây cối đứng
trơ mình khổ hạnh, thi gan với trời đất... Chừng mươi ngày, nửa tháng sau, trời
ấm lên một chút, một vài ánh nắng nhợt nhạt như da người bệnh, hắt cái vàng ủng
lên đầu cây. Băng tan từng phân tử nhỏ, tuyết lại nhẹ nhàng bay như mưa hoa.
Vạn vật cựa mình he hé mở mắt. Vài bóng người trùm kín áo bông, áo da xuất hiện
đó đây... Sự sống dần dần cử tay, động chân...
Trong
cung vui mùa đông, mọi người không biết cái lạnh là gì. Từng bức tường
với màu sắc rực lửa, đỏ ngọn. Khí ấm của củi thơm len lỏi khắp mọi nơi. Nhạc ca
vẫn dặt dìu. Các buổi tiệc nhẹ vẫn tiếp diễn. Các ông hoàng vẫn đạp tuyết sang
chuyện trò, vui chơi cùng thái tử. Có họ thì cung vui đỡ hiu quạnh. Họ thảo
luận nhiều vấn đề. Thái tử bàn với họ rằng, cải cách toàn diện thì thất bại,
tại sao chúng ta không đánh từng điểm một, nghĩa là triển khai lãnh vực
nào mà không đụng chạm đến hoàng gia? Điểm nào dễ thực hiện nhất trong tầm tay
của mình? Kết quả cuộc hội thảo nhất trí bắt tay việc tương tế, các ông hoàng
tình nguyện hùn góp tài sản của mình; và công việc này phải cậy nhờ lệnh bà Gotamī,
Yasodharā, Sundarī Nandā và một số thị nữ trong cung vui đảm trách. Việc
này nên tiến hành lặng lẽ, không phải xin phép. Việc thứ hai quy mô hơn một tí,
tức là vận động mở trường, mời các giáo sư bà-la-môn trong nước và cả nước
ngoài dạy dỗ con em sát-đế-lỵ, ra tay đào tạo nhân tài...
Hôm
ấy trời còn lạnh căm căm, tuyết đã tan, đất trời khô ráo, thái tử và những ông
hoàng - con các đức thân vương - vào cung, xin đức Suddhodāna cho họ
được thực hiện ước muốn của mình, bảo đảm không sử dụng chi phí ngân sách của
vương quốc. Đức vua ngạc nhiên hỏi:
-
Việc này không đụng chạm đến ai, có thể thực hiện được; nhưng ngân sách lấy ở
đâu ra?
Mahānāma
cười đáp:
-
Thưa, cho chúng con được giữ bí mật!
-
Được - vua cười hỷ xả - có công việc làm hữu ích, các con sẽ vui mà trẫm cũng
vui!
Thái
tử và các ông hoàng rất phấn khích. Thời tiết bắt đầu dễ chịu vào cỡ tháng
giêng, ban ngày khí hậu lạnh mát là họ bắt tay vào việc.
Lệnh
bà Gotamī, Yasodharā, Sundarī Nandā sau nhiều đêm, nhiều ngày thảo luận
với nhau, và đã trình bày trước ban chỉ huy một kế hoạch như sau:
-
Đã cho người đi nghiên cứu để xác định những nơi nào là trọng điểm cần ưu tiên
một.
-
Thứ tự tương tế là đói, bệnh sau đó mới đến nghèo.
-
Cấp vốn liếng, thuê thợ thầy dạy công ăn việc làm cho họ.
Các
ông hoàng vui vẻ vỗ tay. Ānanda nói:
-
Con xin góp vốn từ thiện là một ngàn đồng tiền vàng kahāpana.
(Khoảng chừng 100 con bò sữa)
Sau
đó, Mahānāma, Bhaddiya, Kāḷudāyi...
cũng đều ủng hộ mỗi người một ngàn đồng tiền vàng. Mọi người đều nhất trí con
số khởi đầu đó. Thái tử chợt nhíu mày, hỏi mọi người:
-
Trong chúng ta, ai biết, một ngày của người dân nghèo, chi phí ăn uống hết bao
nhiêu māsaka?
-
Chừng hai māsaka - lệnh bà Gotamī trả lời.
-
Vậy thì - Thái tử tính nhẫm - một đồng tiền vàng ăn được bốn đồng pāda, một
đồng pāda ăn được năm đồng māsaka; nói cách khác, một đồng kahāpana
nuôi được mười người trong một ngày.
Nandā
sung sướng xen
vào:
-
Vậy thì em cũng xin nuôi mười ngàn người trong một ngày.
-
Đúng, chính xác - Thái tử nói - vậy thì chúng ta hãy vận động trong hoàng tộc,
thân hữu... mọi người hãy cùng hào phóng biếu tặng một ngàn đồng tiền vàng kahāpana;
chừng năm mươi người, ta sẽ có số tiền năm trăm ngàn, đủ chi phí cho bước đầu
về tất cả các khoản từ ưu tiên một đến ưu tiên ba của mẫu hậu rồi
- Thái tử nhìn Bhagga - còn đệ lo giúp những việc khó khăn bên ngoài, sẽ
phối hợp để tổ chức, sắp xếp trình tự các công đoạn cho chu đáo. Việc chi phí
cho công ăn việc làm, chúng ta sẽ tính sau.
Thấy
mọi người ai cũng hoan hỷ, thái tử rất sung sướng.
-
Còn việc trường học, chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu? Bhaddiya lo lắng hỏi -
hay chỉ việc góp gió thành bão?
-
Chúng ta sẽ quyên góp rộng rãi, có chiến lược hơn. Này nhé - Thái tử nói -
Chúng ta hãy đi du thuyết các quan tổng trấn, nói rằng sẽ có chương trình đào
tạo con em giai cấp chiến sĩ thành tài, sau đó sẽ trở về địa phương, ra tay góp
sức cho thành phố, thị trấn của mình. Chúng ta hãy thuyết phục họ rằng, muốn
cho xứ sở bản hạt có một tương lai sáng sủa thì phải biết đầu tư nhân tài
ngay từ bây giờ!
-
Hay lắm! Thuyết phục lắm! Bhaddiya nói - theo đệ biết, chúng ta có chín
thành phố, thị trấn; thành phần chiến sĩ mỗi nơi có từ năm đến tám trăm người;
tối thiểu mỗi trấn thành, chúng ta chiêu sinh được con em có khả năng theo học
cũng từ hai đến ba mươi người. Cái trường học của chúng ta trong tương lai có
thể lên đến hai trăm năm mươi sinh viên đấy.
-
Nói tóm lại - Thái tử lạc quan nói - Trấn thành nào thì tự lo cho trấn thành
nấy, từ việc đóng góp cơ sở vật chất cho đến chi phí học hành. Còn riêng tại
kinh thành Kapilavatthu thì chúng ta phải tự lo.
Mahānāma
chợt nói:
-
Chúng ta tự lo, nhưng chỉ bao chót. Đệ có kế hoạch là đi quyên tài các ông chủ
ngân hàng, ông chủ các nghiệp đoàn; nói tóm gọn là sẽ nói như thế nào để cho
các ông nhà giàu phải mở hầu bao!
Kāḷudāyi
thủng thỉnh mở
lời, phân nhiệm vụ:
-
Đệ, Kimbila... sẽ cùng làm nhà du thuyết các ông nhà giàu. Huynh, Bhaddhiya
- đều là người có uy tín lớn với các trấn thành, hãy đi thuyết phục các quan
tổng trấn!
-
Hay lắm! Có vẻ thuận buồm xuôi gió rồi - Thái tử bèn phân công thêm - Bây giờ, Ānanda
và Anuruddha tìm kiếm địa điểm xây dựng; còn ta phụ trách phác thảo ngôi
trường cùng dự toán ngân khoản. Nếu không có gì trở ngại, một tháng nữa, thời
tiết thuận lợi, chúng ta sẽ khởi công...
Mọi
người chia tay, từ ngày mai ai cũng có công việc. Niềm hy vọng lóe sáng trong
từng ánh mắt...
Mùa
xuân, tháng giêng, thời tiết Kapilavatthu rất đẹp. Khắp nơi, cây lá ươm
lộc xanh, trăm hoa khoe nụ búp, gió phơi phới mát lành. Sự sống rì rào, xôn xao
trong làn nắng nhẹ, trong từng tế bào non của người và vật...
Yasodharā
mấy lúc này má đỏ
hây hây, dáng dấp nhanh nhẹn, gót sen thoăn thoắt đi về; mọi công việc tương tế
rất thuận lợi. Tuy nhiên, tối về, lúc nào nàng cũng có tâm sự. Lúc thì, “ Thái
tử ạ! Đa phần họ không cần phân biệt nước sạch, nước dơ; khe rãnh hang hố nào
cũng múc nước ăn uống, tắm giặt được. Họ không có một ý niệm nào về vệ sinh!
Lần khác, thì, thái tử ơi! Họ biếng nhác quá. Họ lười thành tinh rồi. Họ thích
ngồi một chỗ. Họ thích đưa cái ăn tới tận miệng. Họ ưa nhịn ăn hơn là làm việc.
Chẳng biết giáo dục họ ra làm sao nữa!”
Chưa thôi, nàng còn có
những nhận xét rất tinh tế khác nữa, “Thái tử à! Cái nguy hiểm nhất
là cái tâm của họ. Dường như mọi tính xấu như ham ăn, mê ngủ, ích kỷ, tham lam,
cộc cằn, thô lỗ... là bản chất cố hữu, đã thành tật, đã mọc rễ ở trong họ từ
đời não đời nao rồi! Thiếp có cảm giác cái việc làm từ thiện này không mang đến
hiệu quả như chúng ta mong đợi...”
-
Này Gopā! Thái tử nói - Ta hiểu, ta biết. Nàng đã có tấm lòng. Nàng đã
vất vả nhiều!
-
Thái tử đâu có tiếp xúc với họ mà nói biết?
-
Hằng đêm, ta nghe tiếng gió.
Gió nó nói rất nhiều bên tai ta. Nó nói những điều như nàng vừa tâm sự. Nó còn
nói rất nhiều nữa, rất nhiều nữa...
-
Rất nhiều nữa ư? Là gì vậy, thái tử?
-
Từ từ thôi mà, Gopā! Vả chăng, ta cũng còn đang suy tư về những điều ấy.
Là những cơn gió hư vô rất lạnh lùng, Gopā! Một lúc nào đó, ta sẽ nói!
Hãy ngủ đi, Hãy ngủ đi nào...
Đêm
nào cũng vậy. Lúc Yasodharā dần dần chìm vào giấc ngủ là lúc thái tử gác
tay lên trán, trăn trở, thao thức... “Cái ăn, cái mặc, cái đói, cái nghèo... kể
cả tham lam, biếng nhác, ích kỷ... chúng từ đâu có? Dẫu cho ăn, cho mặc thì
tham lam, ích kỷ... có vì vậy mà giảm đi? Ồ, không thể nữa rồi! Những người
giàu sang, ăn sung mặc sướng dường như tâm tham lam, ích kỷ lại nhiều hơn...
Bằng chứng là dòng tộc Sākya của chúng ta đấy!”
Thái tử lại thở dài... “Nếu chưa tìm ra lời giải này, thì ta cứ hãy
làm việc gì nghĩ là có ích cho đời!”
Hôm
ấy, Ānanda và Anuruddha tìm đến nói là đã chọn lựa được hai khu
đất rất đẹp, đẹp vô cùng, tùy nghi thái tử chọn lựa. Thái tử nhìn sắc mặt hí
hửng của hai người, cười cười nói:
-
Vậy là khu đất ấy chắc không ở xa điền trang của quý đệ chứ?
Cả
hai ngạc nhiên, đồng nói một lượt:
-
Sao hoàng huynh biết?
-
Chỉ là suy đoán thôi mà! Quý đệ có tài ngoại giao nên đã thuyết phục chư vị
thúc vương hiến tặng đất, có phải không?
-
Đúng thế! Họ mở tròn mắt chăm nhìn thái tử.
-
Còn nữa -Thái tử chậm rãi nói tiếp - Biết đâu, quý đệ còn vận động được hơn cả
trăm ngàn đồng tiền vàng ấy chứ!
-
Đúng thế! Đúng là trăm ngàn, không trật một xu! Tài thiệt! Hoàng huynh có thần
thông rồi!
Thái
tử mỉm cười, giải thích:
-
Thật ra, cũng dễ thôi! Cả hai vị thúc vương đều có ý ủng hộ kế hoạch cải cách
của chúng ta ngay từ đầu. Tấm lòng của hai vị lại rộng rãi nữa, nên con số một
trăm ngàn, đoán đại mà lại trúng!
Cả
hai cười xòa. Thái tử trải tấm giấy ép vỏ cây, trên đó vẽ phác thảo ngôi
trường, chàng nói:
-
Hai trăm rưỡi học viên thì chỉ cần hai dãy lầu khá dài và rộng, cỡ bằng kích
thước gấp đôi hội trường của hoàng gia. Nhưng cơ sở nội trú thì lớn hơn, phải
đầy đủ tiện nghi ăn ở, sinh hoạt, các công trình vệ sinh. Phía bên phải này là
dãy lầu dành cho giáo sư ăn ở. Căn nhà trệt rộng lớn này là nơi phục vụ bếp núc
cùng nhà ăn cho học viên. Ngôi nhà nhỏ xinh xinh này là nơi tiếp khách, cũng là
chỗ cho các giáo sư lui tới bàn bạc công việc... Công trình này khá quy mô,
chúng ta còn cần gặp gỡ các thầy bà-la-môn đã từng du học ở Takkasilā để
nhờ bổ túc thêm ý kiến. Bản vẽ này chỉ là phác thảo sơ bộ, còn cần kỹ sư chuyên
môn thiết kế, điều chỉnh lại. Tuy vậy, theo chiết tính ban đầu, tốn kém sẽ rất
lớn, ước chừng bốn triệu đồng tiền vàng kahāpana cơ đấy!
Ai
nấy đều cả kinh, thất sắc. Thái tử còn tiếp:
-
Chi phí trang bị nội thất, học cụ, học liệu... cũng mất khoảng một triệu. Tốn
kém trồng cây, vườn cảnh cho đẹp cũng phải mất hết hơn nửa triệu. Nhưng đáng
ngại nhất là chi phí lương hướng hằng năm cho chừng hai mươi giáo sư tài giỏi.
Bộ phận phục vụ bếp núc, một số nhân viên phụ tá chúng ta cũng phải thuê mướn.
Vậy thì khi nào chúng ta có chừng khoảng sáu triệu đồng tiền vàng mới dám bắt
đầu khởi công! Sau đó, phải chuẩn bị chừng bốn triệu đồng nữa cho chi phí điều
hành, quản lý...
Con
số tiền vàng ấy không phải nhỏ, không biết các ông hoàng đi du thuyết có mang
lại kết quả nào không? Họ đã biết rõ không phải công việc hay đẹp nào cũng có
người ủng hộ, nhất là những người lớn tuổi, có danh vọng, địa vị và nhiều tham
vọng; trường hợp hai đức thân vương vừa rồi là một biệt lệ...
Đúng
như nỗi lo của thái tử, ít hôm sau, Kāḷudāyi,
Kimbila mặt
mày ủ rủ, đến thông báo là kế hoạch vận động thất bại; cả kinh đô mà chỉ được
năm ngàn đồng tiền vàng thì làm được gì! Rồi lần lượt Mahānāma, Bhaddiya
với những cỗ xe ngựa lấm bụi, từ xa về, buồn bã nói, là đã khô nước bọt nhưng
cũng chỉ thuyết phục được ba vị tổng trấn. Trong lúc mọi người nhìn nhau thở
vắn than dài thì lệnh bà Gotamī cho thị nữ tìm đến, báo một tin vui là
đức vua Suddhodāna ủng hộ một triệu đồng tiền vàng...
Niềm
vui nhỏ không khỏa lấp nổi nỗi buồn lớn. Lâu lắm, thái tử chợt hỏi Mahānāma
và Bhaddiya:
-
Thế còn việc chiêu sinh?
-
Không lạc quan lắm - Mahānāma nói - bình quân mỗi trấn thành có chừng
sáu trăm người thuộc tập cấp chiến sĩ; gia đình nào con cháu cũng đông từ tám
đến mười hai người. Vậy chúng ta chỉ nhẫm tính, sẽ biết rằng, trong tám mươi
gia đình có được mấy người con trai có khả năng theo học đại học? Ngay kinh
thành Kapilavatthu cũng chỉ có chừng mười chàng trai thuộc gia đình
chiến sĩ giàu có hoặc con các vị tướng sát-đế-lỵ là có khả năng - vì họ đều
thuê các thầy giáo bà-la-môn dạy học từ nhỏ.
Bhaddiya
tiếp lời:
-
Nếu tập trung hết, nhiều nhất cũng chỉ có chừng ba bốn chục học viên! Vậy thì
không gọi là trường mà gọi là lớp!
-
Là lớp, cũng được chứ sao! Thái tử gật đầu - chúng ta không có quyền bỏ
cuộc! Đừng nản chí, đừng đầu hàng, các bạn! Hãy nỗ lực hết sức mình, “Không
thành công thì cũng thành người”! Các ông hoàng đều nhất trí, xem câu
nói ấy là châm ngôn hành động.
BA
GIẤC MỘNG CỦA NÀNG YASODHARA
Những
chùm hoa vàng nghệ đã mấy lần nở, mấy lần tàn? Cây hoa hình cầu đổi màu đã bao
mùa thay sắc, thay lá? Thời gian trôi đi, chảy đi... Những đám mây trên trời
vẫn cứ tiếp tục lang thang vô định... Còn ta? Thái tử nghĩ, lang thang từ tư
tưởng này sang tư tưởng khác. Những tư tưởng đứt khúc, gãy vụn... Tư tưởng nào
cũng trùng trùng câu hỏi. Mọi dự định tươi mới, thoáng khắc sau là cũ kỹ, ít
hôm sau là đối diện với cái bất toàn! Lời gió còn nói với ta rằng, những việc
làm từ thiện dẫu cho với bàn tay dịu dàng và tấm lòng nhân ái cũng không làm
dịu mát được lòng người, cũng không làm cho nhẹ bớt sự tham lam và ích kỷ của
thế gian... Di mẫu và Yasodharā đã nhiều năm miệt mài công việc tương tế
giúp đời bằng trái tim của người mẹ, rốt lại cũng vô ích mà thôi. Lòng tham của
lớp người bất hạnh ấy nó lớn quá. Biếng nhác và ích kỷ nữa. Lúc nào cũng chờ
đợi của bố thí. Lúc nào cũng khát thèm. Lúc nào cũng không biết đủ. Điều nguy
hiểm hơn, là họ không chịu thay đổi hoàn cảnh, không chịu thay đổi nguyên nhân.
Họ ngồi mà nhẫn chịu, mà im lặng như triết nhân hoặc than van số phận, định
mệnh đã an bài! Bát cơm và manh áo phải từ bàn tay làm ra chứ? Ngôi nhà, các
tiện nghi sinh sống... phải sửa sang, dọn dẹp, vá víu chỗ này, chỗ kia chứ! Thế
mà họ không làm! Yasodharā nói rằng, dầu nhẫn nại vô cùng, dẫu lòng bi
mẫn cũng lớn lắm, nhưng đến một lúc nào đó cũng phải thui chột đi... Người ta
giúp đỡ thì cũng có hạn. Ai dường như cũng mệt mỏi cả rồi! Thuở xưa, mẹ ta thuở
sinh tiền, cứ đến kỳ đầu và giữa tháng là bố thí bốn ức đồng tiền vàng (bốn trăm
ngàn), cuối đời cũng cạn kiệt, phụ vương bực lắm nhưng cũng phải mỉm
cười. Bây giờ, tiền bạc dành dụm của ai cũng hết sạch cả mà họ vẫn không chịu
khó rèn tập các công việc làm ăn... Ngôi trường, à lớp học, lớp học của ta cũng
thất bại từ lâu rồi! Bao nhiêu tâm huyết bỏ ra, lớp học hình thành, mời thầy
giáo giỏi khắp nơi về giảng dạy. Đầu niên khóa hai bảy người, cuối niên khóa
chỉ còn mười! Vẫn dạy, vẫn học, vẫn duy trì, vẫn lương hướng hậu hĩ cho giáo
sư, nhưng qua năm hai chỉ còn bốn! Rồi cứ thế nó tan dần, tan dần như hạt tuyết
dưới ánh mặt trời. Thế nhưng ta vẫn chưa chịu thua, ta quy tụ con em trong
hoàng gia, quý tộc để giúp họ một căn bản tri thức vững vàng, nhưng rồi cũng
lụi tàn. Người chịu khó học hỏi như thắp đuốc ban ngày để đi tìm trăng sao! Con
người không chịu tiến hóa, không chịu động não để tầm cầu kiến thức, hiểu
biết... Thôi, đành vậy, chứ biết sao! Ta học được hai bài học làm người. Thứ
nhất, có cái gì đó như đã mọc rêu lưu niên, lưu cữu trong tâm địa của
chúng sanh; cả một hầm thói hư tật xấu, không thể trong một sớm một chiều mà
cải hóa được. Thứ hai, có cái gì đó như lực cản, như ngăn bít trí óc -
nên chúng không chịu thăng hoa, hướng đến các giá trị cao hơn; chúng luôn bằng
lòng với đời sống thụ hưởng nhờ tập cấp truyền đời trao lại. Nói tóm lại, tuổi
thanh niên của ta và của các ông hoàng bạn hữu đã hoang phí sức lực để đi theo
một lộ trình vô vọng. Vả, nếu có thành công thì thành công ấy cũng chỉ là cơ
hội tốt cho giới cấp lãnh đạo tăng trưởng lòng tham, tăng trưởng sự hưởng thụ,
tăng trưởng sự tranh giành địa vị và quyền lợi mà thôi! Không có một ánh sáng
nào, không có một lối thoát nào trong các giá trị tại thế... trên con đường
xuôi theo dòng đời!
Buồn
quá, thái tử muốn đi du ngoạn đây đó nhưng phụ vương không cho. Ngài chỉ nói
nhẹ nhàng rằng:
-“Một
vương tử Sākya, theo truyền thống, không được phép phiêu bạt giang hồ như một
khất sĩ, như một gã chăn cừu lang thang, hoặc như một thương nhân với đoàn lạc
đà lếch thếch, ì ạch từ phương này sang xứ khác”
Thái
tử hỏi lại:
-“Vậy
bổn phận và trách nhiệm của hoàng nhi phải là như thế nào hở phụ vương?”
-“Là
luyện tập võ nghệ, coi binh pháp, tập điều hành và quản lý bộ máy vương quốc để
cai trị muôn dân như trẫm vậy”
-“Võ
nghệ, binh pháp hoàng nhi không biết còn ai là thầy nữa, không biết tầm học ở
đâu nữa gần mười năm qua rồi. Còn điều hành và quản lý bộ máy, hoàng nhi cũng
đã từng tập sự, nhưng sự cải cách, đổi mới dầu tốt đẹp thế nào cũng bị cản trở
- thì hoàng nhi biết làm gì nữa?”
Đức
vua Suddhodāna nín lặng, không mở lời được, ngài cũng bất lực. Tất cả họ
đều là con người cũ, tư duy cũ, truyền thống cũ; đã an toàn, đã định vị trên
tập cấp thượng đẳng... thì dại gì đi theo cái mới, khi biết rõ cái mới ấy sẽ
dần dần tướt mất uy thế và lợi quyền của họ! Hóa ra họ cũng không sai! Họ không
sai - thì tư duy, việc làm của thái tử chưa chắc đã đúng!? Ôi! Cái đúng,
cái sai trên cuộc đời này quả là lạ lùng!?
Từng
buổi sáng, từng buổi sáng... Thái tử ngồi lặng ở hiên sau nhìn lên đỉnh Himalaya;
tâm trí chàng thường lìa cái giới hạn chật hẹp của cung đình để phiêu diêu vào
những thế giới xa xăm chưa hề thấy, chưa hề biết. Học lịch sử dân tộc, chàng
biết rằng, dòng dõi huyết thống của chàng khởi nguyên từ hướng Tây bắc xa xôi,
điệp trùng sông núi mà tràn xuống đây, chiếm lấy những bình nguyên màu mỡ để
làm ruộng và chăn bò. Nơi ấy là đâu? Rồi dòng giống Aryan của chúng ta
còn tìm đến những phương trời nào khác nữa? Còn từ đây đến đỉnh tuyết trắng ấy
là xa hay gần? Theo sách học địa lý thì từ Kapilavatthu đến đó chỉ có
vài trăm yojana (do-tuần) nhưng rất khó đến. Vì sao vậy? Vì sau lưng
kinh thành có xóm làng, đi mãi sẽ đến một cổ trấn; nếu đi nữa thì sẽ gặp những
cánh rừng bạt ngàn lau sậy, rừng nguyên sinh thâm u; và ở đây vô vàn là hổ,
báo, voi, tê giác, rắn vua, rắn chúa đủ loại... Nhiều người mạo hiểm đến đấy đã
bỏ mạng bởi thú dữ và sốt rét. Nếu ai may mắn đi qua hết những chướng ngại ấy
thì sẽ bắt gặp một đồng cỏ bằng phẳng, cây cối thưa thớt... Cứ đi nữa thì sẽ
gặp những ngọn đồi, những thung lũng xinh tươi hoa cỏ. Bây giờ, ngước mắt lên
sẽ bắt gặp rặng núi Mahābhārata hùng vĩ như cắt ngang chân trời... Đứng
từ đây, thái tử nghĩ, sách bảo là có thể nhìn thấy nó; nhưng chàng không thấy.
Có lẽ là do khí đá và sương mù. Sau dãy núi ấy còn trùng trùng dãy núi, lên cao
dần, lên cao dần... và cái đỉnh cao nhất kia chính là Himalaya mà ai
cũng nhìn thấy được! Kinh sách ngàn xưa nói rằng, nơi ấy, lúc nào cũng có những
vị tiên ẩn tu đắc đạo! Đắc đạo là trở về với Phạm thể? Và con đường ấy
chỉ có cách là tìm trốn giữa rừng sâu, giữa non cao tuyết lãnh? Ôi, kiến thức
của ta quá hữu hạn, ta không biết gì đến đời sống cũng như cứu cánh của những
ẩn sĩ ấy!
Những
hôm khác, thái tử lại ngồi tư lự nhìn về hướng Đông. Chàng đã một lần sang quê
ngoại. Nhưng xa tít từ Devadaha trở đi, chỉ cần vài ba ngày đường thì có
thể đến bao nhiêu quốc độ ở phương mặt trời mọc? Nhưng chênh về hướng Đông bắc
thì nguy hiểm lắm, nên dừng lại, không nên đi. Vì đấy là rừng rậm tiếp rừng
rậm. Đây lại là quê hương của một loại thổ dân da đen, rất hung dữ, chuyên nghề
săn bắn để giết thịt, và họ cũng đã từng giết bộ hành lai vãng để nướng thui!
Ngôn ngữ của họ không ai phiên dịch được, có lẽ là một bộ lạc cổ sơ còn sót
lại!
Hướng
Tây và Tây bắc, Thái tử cũng đã từng ngồi đăm chiêu. Từ lãnh thổ của Sākya
có một con đường lớn, theo ngựa hoặc theo lạc đà đi mãi, chừng năm, sáu ngày
đường là đến trấn thành đầu tiên của đế quốc Kosala tên là Setaya.
Từ đó, làng mạc tiếp làng mạc, đi mãi, xa khá nhiều ngày đường nữa sẽ đến kinh
đô Sāvatthi, có vị đại vương oai hùng mà ai cũng phải cúi đầu kể cả đức
vua Suddhodāna. Đây là xứ sở của quân hùng tướng mạnh. Khắp các nẻo
đường từ thành thị đến thôn quê, quân đội nhà vua thay phiên nhau canh phòng
cẩn mật tại các điểm gác. Đồng thời, còn có những chiến sĩ trên lưng những
chiến mã oai hùng, giáp bào, vũ khí cùng mình, tuần hành ngày đêm trên các con
lộ huyết mạch. Họ cẩn trọng giữ gìn an ninh cho các đoàn xe thương mãi lữ hành,
kĩu kịt hàng hóa vào kinh thành cũng như rải ra các thị trấn. Bọn đạo tặc vũ
trang thường không dám đụng độ với đội quân chuyên nghiệp thiện chiến này. Cũng
từ đây, đoàn xe thương buôn khởi hành đi xa, ít khi họ dừng lại Kapilavatthu,
mà đi mãi, đi mãi nhiều chục ngày đường để đến Kusinārā, đến Vesāli.
Hàng hóa được trao đổi ở nơi này. Nhưng có đoàn lại theo phà vượt qua sông Gaṇgā,
đến Pāṭaligāma...
rồi tiếp tục hành trình thiên lý đến kinh đô Rājagaha - để trao đổi hàng
hóa với một đế quốc giàu mạnh khác, là Māgadha. Tại Pāṭaligāma,
học địa lý ta còn biết được rằng, mọi người có thể theo thuyền, dong buồm lên
hướng thượng lưu sông Gaṅgā,
chỉ vài ba ngày là đến hai thành phố lớn là Bārāṇasī
và Payāga trù
phú, thạnh mậu và sầm uất...
-“Ôi,
là những đất nước mênh mông, chỉ với trí tưởng thôi, ta đã không thể đi cho
hết. Ngay bốn bức tường thành nơi này mà ta cũng chưa được phép bước ra, dạo
chơi để thấy, để nghe và để tư duy, để chiêm nghiệm về bí mật của cuộc sống!”
Đôi
khi, Yasodharā muốn cùng chia sẻ trầm tư với thái tử, lặng lẽ như cánh
bướm, đến gần bên, hỏi:
-
Bên kia những phương trời có cái gì, thái tử học hỏi nhiều, kiến văn cũng lắm,
có thể cho thiếp hiểu một phần nhỏ, được chăng?
Thái
tử lắc đầu, mỉm cười:
-
Thật ra, có thấy tận mắt mới biết được. Lịch sử châu Diêm-phù-đề đầy những
huyền thoại và truyền thuyết – không vội tin mà cũng không vội phủ nhận. Lịch
sử dòng tộc ta có một khoảng trống về tổ tiên phát nguyên từ vùng Tây bắc. Họ
là những ai? Họ ở đâu? Các quốc độ ở phía sa mạc, ở phía chân trời mù mịt với
những đoàn lạc đà lầm lũi cõng hàng... để đi về những đâu nữa? Rồi trước đó
nữa, bao nhiêu nền văn minh mà nay đã hủy diệt? Con người tồn tại để làm gì?
Hay là xây dựng để rồi hủy nát, vô căn nguyên, vô mục đích? Cứu cánh của cuộc
đời là gì? Tại sao ai cũng lo lắng, bất an và sợ hãi? Có nụ cười và có nước mắt
thật, nhưng thế gian có hạnh phúc không? Hạnh phúc ấy nằm ở đâu? Gopā! Ở
nơi ta lúc nào cũng trùng trùng câu hỏi như vậy đó. Tâm trí ta cứ lang thang
mãi, không được yên, hãy thông cảm cho ta nhé! Tâm trí ta cứ bay lượn tận đâu
đâu ngoài bốn hướng mây trời chưa được thấy, chưa được biết, hãy hiểu cho lòng
ta nhé, Gopā!
Hôm
kia, như đã quyết định, thái tử tìm gặp đức vua, lại xin:
-
Hoàng nhi buồn quá, phụ vương! Hãy cho hoàng nhi đi chơi đâu đó một thời gian
cho khuây khỏa!
Đức
Suddhodāna trầm ngâm giây lát:
-
Con năm nay đã bao nhiêu xuân thu rồi, Siddhattha?
-
Dạ, đã hai mươi lăm tuổi, thưa vương phụ!
-
Ta già rồi, Siddhattha, ta muốn có đứa cháu trai mà trông đã mỏi mòn con
mắt. Vợ chồng con đang còn tuổi thanh xuân, con không thể để cho Yasodharā
ở cung một mình mà đi đây đi đó được. Vả lại, dòng tộc Sākya của chúng
ta chưa có kẻ ngao du lang thang!
Thái
tử cúi đầu, nghĩ thầm: “Phụ hoàng mong ta có đứa con trai, điều ấy cũng có cái
lý của người! Nhưng kiếp sống của chính ta cũng bế tắc, tăm tối; không biết mục
đích của đời người là gì? Hạnh phúc ở đâu? Ta sao đành tạo thêm một sinh linh
trôi nổi giữa biển khổ này nữa! Vả, Yasodharā cũng chưa muốn có con! Như vậy,
nếu chưa có con thì ta không thể đi đâu được cả.”
Tối
về, thái tử đem chuyện ấy tâm sự với Yasodharā, nàng nói xa xôi:
-
Thời gian gần đây, thiếp đều nằm mộng thấy những điềm triệu bất tường...
-
Hãy kể đi, Gopā! Xem thử ta có thể chia sẻ với nàng được chăng?
-
Vâng! Thiếp nằm mộng thấy một con voi trắng với hai chiếc ngà vàng chói lọi,
trên lưng là một chiếc ngai được trang trí châu báu sáng ngời... Chiếc ngai
trống không! Con voi lừng lững, khoan thai bước ra khỏi cổng thành hướng Đông
nam, nó đi không ngoảnh lại. Trong lúc ấy, giữa hư không hiện ra những vị thiên
thần, phục sức giống thiên binh, thiên tướng, cất tiếng hớt hãi: “Hãy giữ con
voi thần ấy lại! Nó là linh hồn của quốc độ. Nó mà bỏ đi thì kinh thành
Kapilavatthu sẽ trống không!” Trong lúc ấy, thiếp chới với, chạy theo,
vấp té rồi tỉnh dậy, trán đổ mồ hôi, tim đập như trống chầu... Thái tử ơi!
Thiếp sợ quá! Con voi kiêu hùng ấy là chàng chăng?
Thái
tử an ủi:
-
Ồ, hoàn toàn là do nàng tưởng tượng! Ta có đi đâu, ta vẫn ở bên nàng hằng đêm,
hằng ngày đây mà!
Yasodharā
kể tiếp:
-
Giấc mộng thứ hai. Thiếp thấy bốn vị trời, thân thể to lớn, đứng chật cả hư
không, oai hùng hết mực; họ thò tay nhấc bốn cổng thành quăng ra biển xa. Lát
sau mây trắng vần vũ, hiện ra một con đường lên cao, lên cao mãi giữa trời
xanh. Con đường càng lên cao thì ngọc ngà, châu báu, ngai vàng, vương miện, mỹ
nữ... rơi xuống... Trên đỉnh của con đường, có một chiếc bóng, trông rất giống
thái tử... cứ lướt cao, lướt cao mãi... mờ dần, mờ dần rồi tan nhòa giữa trăng
sao... Thái tử ơi, khi trông lại, mỹ nữ ấy chính là thiếp, một mình, cô đơn,
hiu quạnh... Thái tử đừng bỏ thiếp bơ vơ giữa cuộc đời mà ra đi nhé!
-
Chiếc bóng mờ dần giữa trăng sao,
đẹp đấy chứ, Gopā!
Yasodharā
giận dỗi:
-
Đẹp! Đẹp! Thiếp quạnh quẽ ngồi khóc một mình mà đẹp à?
-
Vì nàng mộng mị đó thôi! Nào, còn giấc mộng nào nữa không? Cứ kể đi rồi ta sẽ
đoán cho!
-
Lần thứ ba - Yasodharā sụt sùi kể tiếp - Lần này thì đẹp thật, có hai
con chim hạc màu hoàng kim, tha một bông sen trắng từ trên mây xanh bay xuống;
chúng bay, bay chập chờn giữa trăm hoa, trăm sắc, giữa hàng chục tiếng đàn,
tiếng sáo âm thanh trầm bổng, du dương... Hai con chim hạc càng bay xuống gần
thiếp chừng nào thì chúng càng lớn lên chừng ấy. Bông sen cũng vậy, nó cứ to
lớn, lừng lững... nó phủ trùm thiếp rồi tan mất, chỉ còn lại hương thơm ngào
ngạt... Trong cơn mơ, thiếp nhìn lại chỗ chàng nằm, không thấy chàng đâu, ở đấy
chỉ có một vầng trăng!
Thái
tử chợt cau mày:
-
Những giấc mộng của nàng đều kỳ lạ lắm, Gopā! Bông sen trắng tan mất, chỉ
còn một vầng trăng! Đẹp lắm nhưng cũng kỳ lạ lắm. Ta không nói là điềm
triệu ấy vui hay buồn, mà nó thật là kỳ lạ! Trong một lúc, ta chưa đoán nổi
đâu.... Có điều, ta thấy rất rõ, biết rất rõ, nó liên hệ thiết cốt đến rất
nhiều kiếp sống trước đây của chúng ta. Gopā biết không, từ tám tuổi, ta
đã đọc những câu kệ của nhiều chân sư trên thế giới, ta biết cả cách tính toán
những phân tử của quả địa cầu, ta rất rành về ngôn ngữ của rất nhiều bộ tộc
hiện đã mất tích trên thế giới... Các thầy phụ đạo của ta dầu thông kim, bác cổ
nhưng họ cũng đành chịu vì cái biết của ta thuộc về thế giới khác, những thế
giới đã khuất chìm vào quá khứ xa xăm. Vậy, cái biết ấy từ đâu ra? Lại nữa,
giữa hằng trăm mỹ nữ đẹp đến chim sa cá lặn mà ta vẫn thờ ơ; nhưng khi gặp
nàng, trái tim ta lại rung động? Đấy không là điều kỳ diệu sao? Đấy không là
điều làm ta ngạc nhiên sao? Ta và nàng, có lẽ đã có nhân duyên từ nhiều đời
kiếp trước, chúng ta đến với nhau, xây dựng gia đình, vui vầy tổ ấm có lẽ là
cùng chí hướng, cùng tâm nguyện để thực hiện một cái gì đó rất cao cả - mà ta
chưa nhớ đấy thôi, Gopā!
-
Điều đó thì đúng - Yasodharā gật đầu - vì thiếp cũng có cảm nhận tương
tự. Thiếp không phải gặp chàng lần đầu trong cuộc thi sắc đẹp, mà trước đó nữa,
năm thiếp mười hai tuổi, lần đầu theo mẫu hậu sang thăm Kapilavatthu! Hôm
đó, thiếp thấy chàng đang từ hoàng cung đi ra! Thoáng thấy gương mặt của chàng,
dáng dấp của chàng... thì trái tim thiếp nó nhảy loạn trong lồng ngực... Quả
thật là đáng xấu hổ! Một cô bé mười hai tuổi mà đỏ mặt bởi một chàng trai đồng
lứa, không biết dấu mặt đâu cho đỡ thẹn!
Thái
tử cười vui:
-
Thú vị lắm, rồi sau đó ra sao?
-
Còn ra sao nữa! Thấy thiếp như vậy, mẫu hậu quay lại, ân cần hỏi: Sao vậy, Gopā!
Con cảm nắng à? Sao mặt con lại đỏ au như thế? Có sao không con?
-
Chuyện kỳ diệu đấy, Gopā! Vậy thì ta quả quyết rằng, ta với nàng kết
duyên phu thê trải qua rất nhiều kiếp sống rồi. Gặp nàng, ta cảm giác một mối
thân quen lạ lùng. Lại nữa, sống với nàng, những cử chỉ, thái độ ta vừa khởi ý
là nàng đã hiểu rồi, đã biết rồi. Đấy chính là dòng tâm quen thuộc từ quá khứ,
chứ không thể là kiếp này, Gopā! Có một cái gì đó vô danh, ẩn mật đã
khuất chìm... ta phải có bổn phận phải tìm cho ra, Gopā!
Yasodharā
có vẻ lo lắng:
-
Đó có thể là cái gì, thái tử!
-
Ta chưa rõ lắm, nhưng mà này, Gopā! Chắc nàng cũng rõ, các thú vui ngũ
dục, ta không mê luyến; đời sống đế vương ta cũng cảm thấy tầm thường; danh
vọng và quyền lực ta cũng không tham muốn. Tất cả cái vị ngọt ấy, thế gian khát
khao, mơ ước mà sinh ra tranh giành, thủ đoạn, chiến tranh... Còn ta thì lại
muốn đi tìm cái gì khác - mà cái khác đó - hiện nó chưa hề có mặt trên
cuộc đời này...! Trong ta đang có ý tưởng mơ hồ như vậy đó!
Yasodharā
tròn mắt:
-
Chưa hề có mặt trên cuộc đời?
-
Đúng vậy, Gopā! Vì trên cuộc đời, cái gì ta cũng cảm giác bất toàn, đổ
vỡ, bất toại nguyện!
Cả
hai chìm vào yên lặng. Cuộc đối thoại không biết bao nhiêu lần tương tợ như thế
đã đi vào chỗ bế tắc.
Yasodharā
thầm nghĩ: “Chính
những ý nghĩ như thế, một lúc nào đó, thái tử sẽ đi tìm một thế giới khác
chăng? Rồi chàng sẽ rời xa ta chăng? Ba giấc mộng, ta đã lo sợ, đã cảm giác là
những điềm bất tường! Biết đâu có một đứa con, nó sẽ ràng buộc được chàng ở lại
với ta mãi?”
Tiếp theo